Nhiều người cho rằng, hố đen là vùng không gian với mật độ vật chất dày đặc đến nỗi kể cả ánh sáng cũng không thể thoát ra được. Hố đen tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, từ những vật thể vũ trụ có khối lượng chỉ cỡ ngôi sao cho tới những quái vật có khối lượng siêu lớn, nằm ở trung tâm của các dải thiên hà.
Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học thuộc UNC-Chapel Hill chỉ ra rằng, hố đen không tồn tại. Các chuyên gia còn đưa ra những bằng chứng toán học để bảo vệ ý kiến của mình cũng như thuyết phục các nhà vật lý buộc phải loại bỏ lý thuyết của họ về cách thức vũ trụ bắt đầu.
Giả thuyết về hố đen vũ trụ không hề tồn tại?
Theo học thuyết cổ điển, hố đen được cho là có một "chân trời sự kiện". Đây là ranh giới tuyệt đối mà ngay cả ánh sáng cũng không thể thoát nổi lực hấp dẫn vô cùng lớn từ phần lõi dày đặc của hố đen.
Nhà vật lý nổi tiếng
Stephen Hawking còn đưa ra giả thuyết về một ranh giới chuyển tiếp hay chân trời nhìn thấy được, hoạt động tuân thủ theo các hiệu ứng lượng tử.
Năm 1974, Hawking sử dụng cơ học lượng tử để chứng minh lỗ đen phát ra bức xạ. Giả sử có một phi hành gia vũ trụ rơi vào hố đen thì anh ta sẽ ngay lập tức bị thiêu rụi bởi "bức tường lửa" do bức xạ cường độ cao tạo ra và đương nhiên, không bao giờ thoát ra được khỏi đó.
Tuy nhiên, lý thuyết này của Hawking lại san bằng mâu thuẫn giữa 2 học thuyết vì nếu không có "chân trời sự kiện" thì cũng không có "bức tường lửa".
Mersini-Houghton - người đứng đầu nghiên cứu lần này đưa ra một kịch bản hoàn toàn mới. Cô và Hawking đồng ý rằng, một ngôi sao sẽ bị sụp đổ dưới lực hấp dẫn riêng nhưng Mersini-Houghton chỉ ra, với lượng bức xạ này, các ngôi sao sẽ cùng rụng hàng loạt. Và do đó, hố đen sẽ không thể tồn tại.
Giả thuyết về hố đen vũ trụ không hề tồn tại?
Cô lý giải rằng, các hố đen được cho là hình thành khi một ngôi sao lớn sụp đổ dưới lực hấp dẫn riêng, tạo thành một điểm duy nhất trong không gian. Hãy tưởng tượng Trái đất bị nổ, vỡ vụn thành quả cầu nhỏ, có kích thước bằng hạt đậu phộng - đó chính là điểm kỳ dị. Những điểm kỳ dị này sẽ nấp sau chân trời sự kiện và không thể bị khám phá.
Nhiều nhà vật lý, thiên văn học đang cố gắng để kết hợp hai lý thuyết - lý thuyết hấp dẫn của Einstein và cơ học lượng tử nhưng qua nhiều thập kỷ, những kịch bản này vẫn chưa đủ thỏa mãn các thắc mắc về vũ trụ của các nhà khoa học.
Các nhà khoa học tin rằng sẽ vẫn còn nhiều lắm những nghiên cứu được đưa ra để thảo luận về vấn đề hố đen trong vũ trụ này.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgdTtYyHGc8uFvQHkE_7ZsCVFLIv5lWiAGGc4jz1BPLIX3GZwnP5tNp79aqh4Cge8v28zr9-FqbKS2iedV9VpN3J_K0-QvJayWs-62K5XJd0GL16zPP-fwEYA4Sx_1OgK19ueIYmYqQx-1K/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgWY09dg51c-T35XeB6gz1KaRV1MjLLdkW6YB4cfheWctG9__fih2_ZeIe1mop8rEmy1BJFa6maJqgFZh0zhgy9ajc0N0_J3xM7JIH6CjASxJT81UsPEyRwuc3ZJnLBThyphenhyphenv5ZurXtDvBlgz/
Vũ trụ
3:43 PM|

Nhiều người cho rằng, hố đen là vùng không gian với mật độ vật chất dày đặc đến nỗi kể cả ánh sáng cũng không thể thoát ra được. Hố đen tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, từ những vật thể vũ trụ có khối lượng chỉ cỡ ngôi sao cho tới những quái vật có khối lượng siêu lớn, nằm ở trung tâm của các dải thiên hà.
Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học thuộc UNC-Chapel Hill chỉ ra rằng, hố đen không tồn tại. Các chuyên gia còn đưa ra những bằng chứng toán học để bảo vệ ý kiến của mình cũng như thuyết phục các nhà vật lý buộc phải loại bỏ lý thuyết của họ về cách thức vũ trụ bắt đầu.
Giả thuyết về hố đen vũ trụ không hề tồn tại?
Theo học thuyết cổ điển, hố đen được cho là có một "chân trời sự kiện". Đây là ranh giới tuyệt đối mà ngay cả ánh sáng cũng không thể thoát nổi lực hấp dẫn vô cùng lớn từ phần lõi dày đặc của hố đen.
Nhà vật lý nổi tiếng Stephen Hawking còn đưa ra giả thuyết về một ranh giới chuyển tiếp hay chân trời nhìn thấy được, hoạt động tuân thủ theo các hiệu ứng lượng tử.
Năm 1974, Hawking sử dụng cơ học lượng tử để chứng minh lỗ đen phát ra bức xạ. Giả sử có một phi hành gia vũ trụ rơi vào hố đen thì anh ta sẽ ngay lập tức bị thiêu rụi bởi "bức tường lửa" do bức xạ cường độ cao tạo ra và đương nhiên, không bao giờ thoát ra được khỏi đó.
Tuy nhiên, lý thuyết này của Hawking lại san bằng mâu thuẫn giữa 2 học thuyết vì nếu không có "chân trời sự kiện" thì cũng không có "bức tường lửa".
Mersini-Houghton - người đứng đầu nghiên cứu lần này đưa ra một kịch bản hoàn toàn mới. Cô và Hawking đồng ý rằng, một ngôi sao sẽ bị sụp đổ dưới lực hấp dẫn riêng nhưng Mersini-Houghton chỉ ra, với lượng bức xạ này, các ngôi sao sẽ cùng rụng hàng loạt. Và do đó, hố đen sẽ không thể tồn tại.
Giả thuyết về hố đen vũ trụ không hề tồn tại?
Cô lý giải rằng, các hố đen được cho là hình thành khi một ngôi sao lớn sụp đổ dưới lực hấp dẫn riêng, tạo thành một điểm duy nhất trong không gian. Hãy tưởng tượng Trái đất bị nổ, vỡ vụn thành quả cầu nhỏ, có kích thước bằng hạt đậu phộng - đó chính là điểm kỳ dị. Những điểm kỳ dị này sẽ nấp sau chân trời sự kiện và không thể bị khám phá.
Nhiều nhà vật lý, thiên văn học đang cố gắng để kết hợp hai lý thuyết - lý thuyết hấp dẫn của Einstein và cơ học lượng tử nhưng qua nhiều thập kỷ, những kịch bản này vẫn chưa đủ thỏa mãn các thắc mắc về vũ trụ của các nhà khoa học.
Các nhà khoa học tin rằng sẽ vẫn còn nhiều lắm những nghiên cứu được đưa ra để thảo luận về vấn đề hố đen trong vũ trụ này.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgdTtYyHGc8uFvQHkE_7ZsCVFLIv5lWiAGGc4jz1BPLIX3GZwnP5tNp79aqh4Cge8v28zr9-FqbKS2iedV9VpN3J_K0-QvJayWs-62K5XJd0GL16zPP-fwEYA4Sx_1OgK19ueIYmYqQx-1K/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgWY09dg51c-T35XeB6gz1KaRV1MjLLdkW6YB4cfheWctG9__fih2_ZeIe1mop8rEmy1BJFa6maJqgFZh0zhgy9ajc0N0_J3xM7JIH6CjASxJT81UsPEyRwuc3ZJnLBThyphenhyphenv5ZurXtDvBlgz/

Sáng sớm nay 26/9 (giờ Việt Nam), tàu vũ trụ Soyuz TMA-14M của Nga đã đưa ba phi hành gia vào vũ trụ, trong đó có nữ phi hành gia Yelena Serova.
Theo RIA, cô là nữ phi hành gia đầu tiên bay vào vũ trụ trong 17 năm qua, và là phụ nữ Nga đầu tiên bay lên Trạm không gian quốc tế (ISS). Cùng bay với cô còn có phi hành gia Alexander Samokutyayev (Nga) và Barry Wilmore (NASA).
Sau 17 năm, Nga đưa nữ phi hành gia vào vũ trụ
Nữ phi hành gia Yelena Serova - (Ảnh: RIA)

Họ được đưa vào vũ trụ bằng tàu Soyuz TMA-14M, từ trung tâm phóng tàu vũ trụ ở Baikonur, Kazakhstan.
Trong một tuyên bố, Cơ quan không gian Nga Roscosmos cho biết con tàu đã đi thành công vào quỹ đạo và các thành viên phi hành đoàn trong tình trạng sức khỏe tốt. Sau 6 giờ bay, họ đã lên đến ISS.
​Dự kiến ​​sẽ họ sẽ ở trên không gian tổng cộng 169 ngày.
Sau 17 năm, Nga đưa nữ phi hành gia vào vũ trụ
Các phi hành gia trước chuyến bay - (Ảnh: AP)

Serova, 38 tuổi, là nữ phi hành gia thứ tư của Xô Viết/Nga. Phụ nữ Nga đầu tiên bay vào vũ trụ là Valentina Tereshkova, bay lên không gian vào năm 1963. Hai phụ nữ tiếp theo vào vũ trụ là Svetlana Savitskaya vào năm 1982 và 1984, và Yelena Kondakova vào năm 1994 và 1997.
Từ đó đến nay không có nữ phi hành gia Nga nào bay vào không gian.
Sau 17 năm, Nga đưa nữ phi hành gia vào vũ trụ
Yelena Serova nói sẽ không để những người huấn luyện mình thất vọng - (Ảnh: AP)

"Chuyến bay này là công việc của tôi", Serova nói tại một cuộc họp báo trước khi bay. "Tôi sẽ là người phụ nữ đầu tiên của Nga bay lên ISS. Tôi cảm thấy có trách nhiệm rất lớn trước những người đã giảng dạy và huấn luyện chúng tôi, và tôi muốn nói với họ: Chúng tôi sẽ không làm các vị thất vọng!".
Tính đến nay mới có tổng cộng có 57 phụ nữ trên thế giới bay vào không gian. Bốn người trong số đó là Judith Resnik, Laurel Clark Blair Salton, Kalpana Chawla và Christa McAuliffe (tất cả đều là người Mỹ) đã thiệt mạng khi tàu con thoi chở họ phát nổ trên không trung.
Nga hiện là nước duy nhất trên thế giới đưa các phi hành gia lên ISS sau khi đội tàu con thoi của Mỹ "nghỉ hưu".
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhgoDIrSV2gsVIZzWbgmZE8LVK43Qbot_pJ0SBwPZztW4z3_gz6fOrQ0fJfccDxTKSvd2Evye_XrcB_hbGUNNAZ1_l303lOSBGLiKlZNMuhdlhO1sw3qCdQTaTGlhyjPRZZljuxW7FiI5KN/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiUqZOcpCjggAMyNdPYtLu-GRT5AkS65A7l2jj0-u3Zi0tuKwS2qe3dv5zNcwB0eTrubkmNk3b94o9rYqCjK92RoR53E7OowF8_7URUpRdC50ELTCngp6TP88_LYKef_3XdHmc3Z5f9uZXC/
Vũ trụ
3:43 PM|

Sáng sớm nay 26/9 (giờ Việt Nam), tàu vũ trụ Soyuz TMA-14M của Nga đã đưa ba phi hành gia vào vũ trụ, trong đó có nữ phi hành gia Yelena Serova.
Theo RIA, cô là nữ phi hành gia đầu tiên bay vào vũ trụ trong 17 năm qua, và là phụ nữ Nga đầu tiên bay lên Trạm không gian quốc tế (ISS). Cùng bay với cô còn có phi hành gia Alexander Samokutyayev (Nga) và Barry Wilmore (NASA).
Sau 17 năm, Nga đưa nữ phi hành gia vào vũ trụ
Nữ phi hành gia Yelena Serova - (Ảnh: RIA)

Họ được đưa vào vũ trụ bằng tàu Soyuz TMA-14M, từ trung tâm phóng tàu vũ trụ ở Baikonur, Kazakhstan.
Trong một tuyên bố, Cơ quan không gian Nga Roscosmos cho biết con tàu đã đi thành công vào quỹ đạo và các thành viên phi hành đoàn trong tình trạng sức khỏe tốt. Sau 6 giờ bay, họ đã lên đến ISS.
​Dự kiến ​​sẽ họ sẽ ở trên không gian tổng cộng 169 ngày.
Sau 17 năm, Nga đưa nữ phi hành gia vào vũ trụ
Các phi hành gia trước chuyến bay - (Ảnh: AP)

Serova, 38 tuổi, là nữ phi hành gia thứ tư của Xô Viết/Nga. Phụ nữ Nga đầu tiên bay vào vũ trụ là Valentina Tereshkova, bay lên không gian vào năm 1963. Hai phụ nữ tiếp theo vào vũ trụ là Svetlana Savitskaya vào năm 1982 và 1984, và Yelena Kondakova vào năm 1994 và 1997.
Từ đó đến nay không có nữ phi hành gia Nga nào bay vào không gian.
Sau 17 năm, Nga đưa nữ phi hành gia vào vũ trụ
Yelena Serova nói sẽ không để những người huấn luyện mình thất vọng - (Ảnh: AP)

"Chuyến bay này là công việc của tôi", Serova nói tại một cuộc họp báo trước khi bay. "Tôi sẽ là người phụ nữ đầu tiên của Nga bay lên ISS. Tôi cảm thấy có trách nhiệm rất lớn trước những người đã giảng dạy và huấn luyện chúng tôi, và tôi muốn nói với họ: Chúng tôi sẽ không làm các vị thất vọng!".
Tính đến nay mới có tổng cộng có 57 phụ nữ trên thế giới bay vào không gian. Bốn người trong số đó là Judith Resnik, Laurel Clark Blair Salton, Kalpana Chawla và Christa McAuliffe (tất cả đều là người Mỹ) đã thiệt mạng khi tàu con thoi chở họ phát nổ trên không trung.
Nga hiện là nước duy nhất trên thế giới đưa các phi hành gia lên ISS sau khi đội tàu con thoi của Mỹ "nghỉ hưu".
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhgoDIrSV2gsVIZzWbgmZE8LVK43Qbot_pJ0SBwPZztW4z3_gz6fOrQ0fJfccDxTKSvd2Evye_XrcB_hbGUNNAZ1_l303lOSBGLiKlZNMuhdlhO1sw3qCdQTaTGlhyjPRZZljuxW7FiI5KN/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiUqZOcpCjggAMyNdPYtLu-GRT5AkS65A7l2jj0-u3Zi0tuKwS2qe3dv5zNcwB0eTrubkmNk3b94o9rYqCjK92RoR53E7OowF8_7URUpRdC50ELTCngp6TP88_LYKef_3XdHmc3Z5f9uZXC/

Tàu vũ trụ của Ấn Độ đã gửi về Trái đất những bức ảnh đầu tiên chụp sao Hỏa với bề mặt hình thành bởi các miệng núi lửa, làm tăng thêm niềm tự hào của đất nước Nam Á sau chiến thắng trước phần còn lại của châu Á trong cuộc đua khám phá hành tinh đỏ.
Cơ quan Nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ (ISRO) vào hôm 25/9 đã công bố một trong những bức ảnh trên tại trang Facebook của mình, cho thấy bề mặt sao Hỏa màu cam với nhiều miệng hố đen, được chụp từ độ cao 7.300km. Ngoài ra, ISRO cũng đăng bức ảnh trên Twitter.
Hình ảnh đầu tiên do tàu vũ trụ của Ấn Độ gửi về
Hình ảnh về sao Hỏa đầu tiên do tàu vũ trụ Mars Orbiter Mission chụp truyền về Trái đất - (Ảnh: AFP)

Nhà khoa học cấp cao của ISRO V. Koteswara Rao cho biết,
tàu vũ trụ Mars Orbiter Mission, hay còn gọi là Mangalyaan, đã chụp được hàng chục bức ảnh và mọi thứ đều vận hành tốt.
"Máy chụp ảnh màu sao Hỏa trên tàu vũ trụ bắt đầu làm việc ngay sau khi con tàu ổn định trên quỹ đạo hình elip quanh sao Hỏa và nó đã chụp được hàng chục bức ảnh chất lượng về bề mặt sao Hỏa và vùng xung quanh nó", AFP dẫn lời nhà khoa học V. Koteswara Rao nói.
"Máy ảnh cũng đã chụp được các hình ảnh hai mặt trăng của hành tinh đỏ và truyền chúng về trung tâm mạng lưới không gian sâu của chúng tôi", ông Rao nói, đề cập đến cơ sở gần thành phố miền nam Bangalore.
Được biết, Ấn Độ đã vượt mặt Trung Quốc và Nhật Bản, hai quốc gia lần lượt thất bại trong tham vọng đưa tàu đến sao Hỏa vào năm 2011 và 2003, khi tàu Mars Orbiter Mission đi vào quỹ đạo hành tinh đỏ thành công vào hôm 24/9, sau hành trình kéo dài 10 tháng qua khoảng đường dài 410 triệu km.
Hình ảnh đầu tiên do tàu vũ trụ của Ấn Độ gửi về
Tàu thăm dò Mars Orbiter Mission bay vào quỹ đạo sao Hỏa thành công hôm 24/9 - (Ảnh: AFP)

Ngoài ra, sự kiện này cũng giúp Ấn Độ trở thành quốc gia đầu tiên thực hiện thành công sứ mệnh thăm dò sao Hỏa ngay lần phóng tàu đầu tiên. Trong khi châu Âu, Mỹ, Nga đã đưa được tàu vũ trụ bay đến quỹ đạo và cả đáp lên bề mặt hành tinh đỏ nhưng phải sau vài lần thất bại.
Điều đáng nói là sứ mệnh khám phá sao Hỏa đầu tiên của Ấn Độ chỉ tiêu tốn 74 triệu USD, rẻ hơn nhiều so với chi phí 671 triệu USD mà Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) bỏ ra để đưa tàu Maven bay đến sao Hỏa.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiDK20mjKhcaQ-jYXD3EvhAxMgKmSpzhCkgFdcw7QU0Ss7rnQ-Gmb4rptRzMRW875OANb4MDcrhyphenhyphenoTBWL5j2EOSqoJFQa2RCmTzNCJ5Q57YneBHAgaoDFgQ4Whv1-5WQ0gHYwuWF2QHAhdV/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhAO0ULwLfcyZD0vADyY_QAVjdQiT_e5QtUsTfV_KH-p64bs5vje6pevK-JAwSiBZnqgIHVewWYd2hGvUvNl5aX1t_QqsDnIbHE10tQv_AJRT9YRlVhZrJjrzDPR1I0_npyhTyRMueRCUVG/
Vũ trụ
3:42 PM|

Tàu vũ trụ của Ấn Độ đã gửi về Trái đất những bức ảnh đầu tiên chụp sao Hỏa với bề mặt hình thành bởi các miệng núi lửa, làm tăng thêm niềm tự hào của đất nước Nam Á sau chiến thắng trước phần còn lại của châu Á trong cuộc đua khám phá hành tinh đỏ.
Cơ quan Nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ (ISRO) vào hôm 25/9 đã công bố một trong những bức ảnh trên tại trang Facebook của mình, cho thấy bề mặt sao Hỏa màu cam với nhiều miệng hố đen, được chụp từ độ cao 7.300km. Ngoài ra, ISRO cũng đăng bức ảnh trên Twitter.
Hình ảnh đầu tiên do tàu vũ trụ của Ấn Độ gửi về
Hình ảnh về sao Hỏa đầu tiên do tàu vũ trụ Mars Orbiter Mission chụp truyền về Trái đất - (Ảnh: AFP)

Nhà khoa học cấp cao của ISRO V. Koteswara Rao cho biết, tàu vũ trụ Mars Orbiter Mission, hay còn gọi là Mangalyaan, đã chụp được hàng chục bức ảnh và mọi thứ đều vận hành tốt.
"Máy chụp ảnh màu sao Hỏa trên tàu vũ trụ bắt đầu làm việc ngay sau khi con tàu ổn định trên quỹ đạo hình elip quanh sao Hỏa và nó đã chụp được hàng chục bức ảnh chất lượng về bề mặt sao Hỏa và vùng xung quanh nó", AFP dẫn lời nhà khoa học V. Koteswara Rao nói.
"Máy ảnh cũng đã chụp được các hình ảnh hai mặt trăng của hành tinh đỏ và truyền chúng về trung tâm mạng lưới không gian sâu của chúng tôi", ông Rao nói, đề cập đến cơ sở gần thành phố miền nam Bangalore.
Được biết, Ấn Độ đã vượt mặt Trung Quốc và Nhật Bản, hai quốc gia lần lượt thất bại trong tham vọng đưa tàu đến sao Hỏa vào năm 2011 và 2003, khi tàu Mars Orbiter Mission đi vào quỹ đạo hành tinh đỏ thành công vào hôm 24/9, sau hành trình kéo dài 10 tháng qua khoảng đường dài 410 triệu km.
Hình ảnh đầu tiên do tàu vũ trụ của Ấn Độ gửi về
Tàu thăm dò Mars Orbiter Mission bay vào quỹ đạo sao Hỏa thành công hôm 24/9 - (Ảnh: AFP)

Ngoài ra, sự kiện này cũng giúp Ấn Độ trở thành quốc gia đầu tiên thực hiện thành công sứ mệnh thăm dò sao Hỏa ngay lần phóng tàu đầu tiên. Trong khi châu Âu, Mỹ, Nga đã đưa được tàu vũ trụ bay đến quỹ đạo và cả đáp lên bề mặt hành tinh đỏ nhưng phải sau vài lần thất bại.
Điều đáng nói là sứ mệnh khám phá sao Hỏa đầu tiên của Ấn Độ chỉ tiêu tốn 74 triệu USD, rẻ hơn nhiều so với chi phí 671 triệu USD mà Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) bỏ ra để đưa tàu Maven bay đến sao Hỏa.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiDK20mjKhcaQ-jYXD3EvhAxMgKmSpzhCkgFdcw7QU0Ss7rnQ-Gmb4rptRzMRW875OANb4MDcrhyphenhyphenoTBWL5j2EOSqoJFQa2RCmTzNCJ5Q57YneBHAgaoDFgQ4Whv1-5WQ0gHYwuWF2QHAhdV/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhAO0ULwLfcyZD0vADyY_QAVjdQiT_e5QtUsTfV_KH-p64bs5vje6pevK-JAwSiBZnqgIHVewWYd2hGvUvNl5aX1t_QqsDnIbHE10tQv_AJRT9YRlVhZrJjrzDPR1I0_npyhTyRMueRCUVG/

Lần đầu tiên, các nhà khoa học xác định thành phần hoá học trong bầu khí quyển của một ngoại hành tinh xa xôi, có kích thước nhỏ hơn sao Mộc.
Ngoại hành tinh HAT P-11b có kích thước tương tự sao Hải Vương, quay quanh ngôi sao chủ thuộc chòm sao Cygnus, cách trái đất khoảng 124 năm ánh sáng.
Hơi nước xuất hiện ở ngoại hành tinh giống sao Hải Vương
Ngoại hành tinh HAT P-11b có kích thước tương tự sao Hải Vương - (Ảnh: BBC News)

Theo báo cáo đăng trên tạp chí Nature, khí quyển tại ngoại hành tinh xa xôi này chứa khoảng 90% hidro cùng một lượng hơi nước đáng kể. Đây cũng là ngoại hành tinh nhỏ nhất từ trước đến nay “tiết lộ” thành phần hoá học của nó.
Với sự hỗ trợ của ba kính thiên văn hiện đại, điều kiện quang đãng, nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Maryland, Mỹ thực hiện phép đo màu sắc ánh sáng hấp thụ của HAT P-11b khi nó ở vị trí đối diện ngôi sao chủ.
Tiến sĩ Eliza Kempton thuộc Đại học Grinnell, lowa cho biết: “Trước đây, chúng tôi chỉ có thể áp dụng điều này cho các hành tinh lớn hơn hoặc có kích thước như sao Mộc. Nhưng cuối cùng, chúng tôi cũng đã phát hiện những phân tử trong khí quyển của những hành tinh nhỏ hơn. Đó là bước tiến quan trọng trong nghiên cứu những hành tinh ngoài hệ mặt trời".
Nước có tác động rõ ràng đối với cuộc sống, mặc dù HAT P-11b quá nóng để có thể ở được do nằm gần ngôi sao chủ. Tuy nhiên, sự có mặt nước trong khí quyển của các ngoại hành tinh kích thước nhỏ là điểm xem xét quan trọng trong việc tìm kiếm sự sống các sinh vật tại những nơi xa xôi khác trong thiên hà chúng ta.
Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đổi lại.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjQIu781HqlcRUQNnKMdJ4qm-7tcig_c5de_6jhNKHTWutN5pDA9RgUqBrdiwI1c39l9ons-aXQ4Uqsd7B_zQ-V2rtQIaW7CRAYNzyS3z2io0nDuF1IVrvSWn0bQZRpBw6Stq0-Iv53tyLE/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgb1yORz7vhZXwRD5H-CxDNIkLOZWtX0brAibnYVL7DSFBz1YHBqVJR-75jwS633h-8G8jwe3oTYAldOyUpSiROQuYjEKgHPsdE4FKo6qX85E9hkH0-SCC-UxgZUoZK3Cr30xvks3ltndxH/
Vũ trụ
3:42 PM|

Lần đầu tiên, các nhà khoa học xác định thành phần hoá học trong bầu khí quyển của một ngoại hành tinh xa xôi, có kích thước nhỏ hơn sao Mộc.
Ngoại hành tinh HAT P-11b có kích thước tương tự sao Hải Vương, quay quanh ngôi sao chủ thuộc chòm sao Cygnus, cách trái đất khoảng 124 năm ánh sáng.
Hơi nước xuất hiện ở ngoại hành tinh giống sao Hải Vương
Ngoại hành tinh HAT P-11b có kích thước tương tự sao Hải Vương - (Ảnh: BBC News)

Theo báo cáo đăng trên tạp chí Nature, khí quyển tại ngoại hành tinh xa xôi này chứa khoảng 90% hidro cùng một lượng hơi nước đáng kể. Đây cũng là ngoại hành tinh nhỏ nhất từ trước đến nay “tiết lộ” thành phần hoá học của nó.
Với sự hỗ trợ của ba kính thiên văn hiện đại, điều kiện quang đãng, nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Maryland, Mỹ thực hiện phép đo màu sắc ánh sáng hấp thụ của HAT P-11b khi nó ở vị trí đối diện ngôi sao chủ.
Tiến sĩ Eliza Kempton thuộc Đại học Grinnell, lowa cho biết: “Trước đây, chúng tôi chỉ có thể áp dụng điều này cho các hành tinh lớn hơn hoặc có kích thước như sao Mộc. Nhưng cuối cùng, chúng tôi cũng đã phát hiện những phân tử trong khí quyển của những hành tinh nhỏ hơn. Đó là bước tiến quan trọng trong nghiên cứu những hành tinh ngoài hệ mặt trời".
Nước có tác động rõ ràng đối với cuộc sống, mặc dù HAT P-11b quá nóng để có thể ở được do nằm gần ngôi sao chủ. Tuy nhiên, sự có mặt nước trong khí quyển của các ngoại hành tinh kích thước nhỏ là điểm xem xét quan trọng trong việc tìm kiếm sự sống các sinh vật tại những nơi xa xôi khác trong thiên hà chúng ta.
Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đổi lại.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjQIu781HqlcRUQNnKMdJ4qm-7tcig_c5de_6jhNKHTWutN5pDA9RgUqBrdiwI1c39l9ons-aXQ4Uqsd7B_zQ-V2rtQIaW7CRAYNzyS3z2io0nDuF1IVrvSWn0bQZRpBw6Stq0-Iv53tyLE/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgb1yORz7vhZXwRD5H-CxDNIkLOZWtX0brAibnYVL7DSFBz1YHBqVJR-75jwS633h-8G8jwe3oTYAldOyUpSiROQuYjEKgHPsdE4FKo6qX85E9hkH0-SCC-UxgZUoZK3Cr30xvks3ltndxH/

Sao Diêm Vương vẫn còn cơ hội được kết nạp vào đại gia đình hành tinh của hệ mặt trời, sau khi nhận được đa số phiếu "thăng hạng" cho nó.
Sao Diêm Vương bị giáng cấp xuống thành hành tinh lùn vào năm 2006 sau cuộc họp của Liên minh Thiên văn học Quốc tế (IAU) để trả lời câu hỏi rằng: “Hành tinh là gì?”, và phát hiện nó không phù hợp với tiêu chí để có thể được gọi là hành tinh.
Mới đây, Trung tâm Harvard-Smithsonian về Vật lý học thiên thể quyết định chủ trì phiên tranh luận với sự tham gia của 3 chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực khoa học hành tinh, gồm Owen Gingerich, Gareth Williams và Dimitar Sasselov.
Mở lại cuộc tranh luận về sao Diêm Vương
Sao Diêm Vương đang trên đà teo nhỏ theo thời gian, với chỉ số khối được cho là 1/459 so với Trái đất - (Ảnh: NASA/ESA)

Mỗi diễn giả đưa ra quan điểm của mình về cách định nghĩa một hành tinh, từ đó trả lời câu hỏi: “Liệu sao Diêm Vương được xếp vào dạng hành tinh hoặc không phải?” Kế đến, khán giả bỏ phiếu bầu câu trả lời theo họ là hợp lý nhất.
Sau đây là tóm tắt về cuộc trình bày, theo Phys.Org ghi nhận:
Luận điểm của Gingerich: Hành tinh là một từ được định nghĩa về mặt văn hóa, thay đổi theo thời gian, như vậy sao Diêm Vương là một hành tinh.
Luận điểm của Williams: Hành tinh là một thiên thể hình cầu xoay quanh mặt trời và có quỹ đạo rõ ràng, kết luận: sao Diêm Vương không phải là hành tinh.
Luận điểm của Sasselov: Hành tinh là một khối vật chất hình cầu nhỏ nhất, hình thành quanh các ngôi sao hoặc những tàn tích của sao, nên sao Diêm Vương là hành tinh.
Đa số khán giả đã chọn số 3, có nghĩa là đám đông xem sao Diêm Vương là một hành tinh.
Tất nhiên, sự bầu chọn trên chỉ tuân theo cảm xúc và nếu muốn nâng bậc của sao Diêm Vương, cộng đồng thiên văn học phải thuyết phục IAU thay đổi quan điểm.
Trước khi bị giáng cấp, sao Diêm Vương được xem là hành tinh thứ 9 trong hệ mặt trời.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjGY9GpMoQ1RVDL3TliX2NFFCTY2-9Ha6SvKnOPR64kRln17S5O_SsHpTTxGLICZpHj26MFr-lS2qibsPS4WthY1jilP5obRQCZwL_fgrGkqNkhbxKEmPYlX36iFNVQCjLKWDUAGuReK6Nl/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjf0axgSFndwVFDHzKgLmmmlbrDqUVPUnJOTiJULw18kW65aXVDoRT9-HbCOjgw4IvUgVH6dB8Z7TJj8e0gWGKA7b9ZkrNEJQvBmFmTMvuEYfjLRfDGBtVVexTQqzgqkNKy0taaaslysYG-/
Vũ trụ
3:42 PM|

Sao Diêm Vương vẫn còn cơ hội được kết nạp vào đại gia đình hành tinh của hệ mặt trời, sau khi nhận được đa số phiếu "thăng hạng" cho nó.
Sao Diêm Vương bị giáng cấp xuống thành hành tinh lùn vào năm 2006 sau cuộc họp của Liên minh Thiên văn học Quốc tế (IAU) để trả lời câu hỏi rằng: “Hành tinh là gì?”, và phát hiện nó không phù hợp với tiêu chí để có thể được gọi là hành tinh.
Mới đây, Trung tâm Harvard-Smithsonian về Vật lý học thiên thể quyết định chủ trì phiên tranh luận với sự tham gia của 3 chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực khoa học hành tinh, gồm Owen Gingerich, Gareth Williams và Dimitar Sasselov.
Mở lại cuộc tranh luận về sao Diêm Vương
Sao Diêm Vương đang trên đà teo nhỏ theo thời gian, với chỉ số khối được cho là 1/459 so với Trái đất - (Ảnh: NASA/ESA)

Mỗi diễn giả đưa ra quan điểm của mình về cách định nghĩa một hành tinh, từ đó trả lời câu hỏi: “Liệu sao Diêm Vương được xếp vào dạng hành tinh hoặc không phải?” Kế đến, khán giả bỏ phiếu bầu câu trả lời theo họ là hợp lý nhất.
Sau đây là tóm tắt về cuộc trình bày, theo Phys.Org ghi nhận:
Luận điểm của Gingerich: Hành tinh là một từ được định nghĩa về mặt văn hóa, thay đổi theo thời gian, như vậy sao Diêm Vương là một hành tinh.
Luận điểm của Williams: Hành tinh là một thiên thể hình cầu xoay quanh mặt trời và có quỹ đạo rõ ràng, kết luận: sao Diêm Vương không phải là hành tinh.
Luận điểm của Sasselov: Hành tinh là một khối vật chất hình cầu nhỏ nhất, hình thành quanh các ngôi sao hoặc những tàn tích của sao, nên sao Diêm Vương là hành tinh.
Đa số khán giả đã chọn số 3, có nghĩa là đám đông xem sao Diêm Vương là một hành tinh.
Tất nhiên, sự bầu chọn trên chỉ tuân theo cảm xúc và nếu muốn nâng bậc của sao Diêm Vương, cộng đồng thiên văn học phải thuyết phục IAU thay đổi quan điểm.
Trước khi bị giáng cấp, sao Diêm Vương được xem là hành tinh thứ 9 trong hệ mặt trời.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjGY9GpMoQ1RVDL3TliX2NFFCTY2-9Ha6SvKnOPR64kRln17S5O_SsHpTTxGLICZpHj26MFr-lS2qibsPS4WthY1jilP5obRQCZwL_fgrGkqNkhbxKEmPYlX36iFNVQCjLKWDUAGuReK6Nl/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjf0axgSFndwVFDHzKgLmmmlbrDqUVPUnJOTiJULw18kW65aXVDoRT9-HbCOjgw4IvUgVH6dB8Z7TJj8e0gWGKA7b9ZkrNEJQvBmFmTMvuEYfjLRfDGBtVVexTQqzgqkNKy0taaaslysYG-/

Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi ngày 24/9 thông báo tàu vũ trụ không người lái Mangalyaan của nước này đã đi vào quỹ đạo của Sao Hỏa thành công, đưa Ấn Độ trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới tiếp cận được với Hành tinh Đỏ ngay trong lần đầu tiên thực hiện sứ mệnh không gian này.
"Ấn Độ đã tiếp cận Sao Hỏa thành công. Chúc mừng toàn thể nhân dân, đất nước, trang sử mới đã được viết nên vào hôm nay", ông Modi phát biểu từ trạm điều khiển mặt đất thuộc Trung tâm Nghiên cứu không gian quốc gia nằm ở miền Nam Ấn Độ.
Đây được coi là thành tựu lớn đối với ngành hành không vũ trụ tự phát triển với chi phí thấp của đất nước đông dân thứ hai thế giới.
"Tôi cũng xin được thông báo rằng số lượng nhà khoa học tham gia sứ mệnh này thậm chí còn ít hơn số kỹ sư bỏ công làm một bộ phim Hollywood", ông Modi nói trong buổi truyền hình trực tiếp.
Tàu Mangalyaan đã đi vào quỹ đạo sao Hỏa
Tàu vũ trụ không người lái Mangalyaan. (Ảnh: BBC)

Theo AFP, chi phí cho sứ mệnh không gian này của Ấn Độ chỉ tiêu tốn 74 triệu USD, tức còn ít hơn kinh phí 100 triệu USD của bộ phim bom tấn về đề tài không gian đoạt giải Oscar là "Gravity" (Trọng lực).
Với thành công này, Ấn Độ cũng đã gia nhập nhóm cường quốc đã tiếp cận được với hành tinh Đỏ gồm Mỹ, Nga và châu Âu.
Theo BBC, tàu Mangalyaan đã đi vào quỹ đạo Sao Hỏa sáng sớm ngày 24/9 sau hành trình từ Trái Đất kéo dài suốt 10 tháng.
Động cơ của tàu khi đó đã hoạt động chậm lại để phù hợp với trọng lực của Sao Hỏa.
Theo kế hoạch, tàu sẽ tiến hành nghiên cứu bề mặt và bầu không khí Sao Hỏa, nhằm cung cấp bằng chứng về sự sống tại hành tinh này.
Tàu sẽ bay vòng quanh Sao Hỏa trong vòng sáu tháng, với độ cao khoảng 500km so với mặt đất, thu thập dữ liệu và truyền về Trái Đất.
Các chuyên gia nói rằng mục đích chính của sứ mệnh nhằm chứng tỏ rằng Ấn Độ có thể chia sẻ thị phần lớn hơn trong thị trường không gian toàn cầu có giá trị 300 tỷ USD.
Chi phí mà Ấn Độ bỏ ra chỉ bằng một phần nhỏ của chi phí cho tàu vũ trụ MAVEN của NASA, cũng đã đi vào quỹ đạo hành tinh thứ tư trong hệ Mặt Trời từ hôm Chủ nhật.
Ấn Độ đã phóng khoảng 40 vệ tinh cho các nước khác kể từ khi khởi động chương trình không gian cách đây năm thập kỷ, nhưng vẫn chưa sánh được với Trung Quốc.
Tuy vậy, chương trình này cũng vấp phải một số chỉ trích rằng Ấn Độ nên nỗ lực xóa bỏ bất bình đẳng ở một đất nước thiếu nhà vệ sinh trầm trọng hơn là tham gia vào cuộc đua không gian tốn kém.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhyynoGOOCLMoK-lelHkEbw9JpV6UKVOyGPPc3McKb66vZ4HdoQOINhEKYm8BA0BjmCnXysE1LOX4H9bq4jh9Iz3HylU3qp-5zTSV3SKQiNaFUpc0-K3QpdEFXBpXc0psHCKXjriJqAg8yC/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgMLA74SwVOvIxhgzjRVwazeJ92YIPw9MI3y7KxFa4u_x1V3z2CQVG8pvA5xRnM5jHR2AwfU4p6QiENAMZae-H0b2m5iejeM3LauFq6juqNn2Y1bi57_wtOL5lE5NE5CW3re-e3d1-EYpoK/
Vũ trụ
3:41 PM|

Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi ngày 24/9 thông báo tàu vũ trụ không người lái Mangalyaan của nước này đã đi vào quỹ đạo của Sao Hỏa thành công, đưa Ấn Độ trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới tiếp cận được với Hành tinh Đỏ ngay trong lần đầu tiên thực hiện sứ mệnh không gian này.
"Ấn Độ đã tiếp cận Sao Hỏa thành công. Chúc mừng toàn thể nhân dân, đất nước, trang sử mới đã được viết nên vào hôm nay", ông Modi phát biểu từ trạm điều khiển mặt đất thuộc Trung tâm Nghiên cứu không gian quốc gia nằm ở miền Nam Ấn Độ.
Đây được coi là thành tựu lớn đối với ngành hành không vũ trụ tự phát triển với chi phí thấp của đất nước đông dân thứ hai thế giới.
"Tôi cũng xin được thông báo rằng số lượng nhà khoa học tham gia sứ mệnh này thậm chí còn ít hơn số kỹ sư bỏ công làm một bộ phim Hollywood", ông Modi nói trong buổi truyền hình trực tiếp.
Tàu Mangalyaan đã đi vào quỹ đạo sao Hỏa
Tàu vũ trụ không người lái Mangalyaan. (Ảnh: BBC)

Theo AFP, chi phí cho sứ mệnh không gian này của Ấn Độ chỉ tiêu tốn 74 triệu USD, tức còn ít hơn kinh phí 100 triệu USD của bộ phim bom tấn về đề tài không gian đoạt giải Oscar là "Gravity" (Trọng lực).
Với thành công này, Ấn Độ cũng đã gia nhập nhóm cường quốc đã tiếp cận được với hành tinh Đỏ gồm Mỹ, Nga và châu Âu.
Theo BBC, tàu Mangalyaan đã đi vào quỹ đạo Sao Hỏa sáng sớm ngày 24/9 sau hành trình từ Trái Đất kéo dài suốt 10 tháng.
Động cơ của tàu khi đó đã hoạt động chậm lại để phù hợp với trọng lực của Sao Hỏa.
Theo kế hoạch, tàu sẽ tiến hành nghiên cứu bề mặt và bầu không khí Sao Hỏa, nhằm cung cấp bằng chứng về sự sống tại hành tinh này.
Tàu sẽ bay vòng quanh Sao Hỏa trong vòng sáu tháng, với độ cao khoảng 500km so với mặt đất, thu thập dữ liệu và truyền về Trái Đất.
Các chuyên gia nói rằng mục đích chính của sứ mệnh nhằm chứng tỏ rằng Ấn Độ có thể chia sẻ thị phần lớn hơn trong thị trường không gian toàn cầu có giá trị 300 tỷ USD.
Chi phí mà Ấn Độ bỏ ra chỉ bằng một phần nhỏ của chi phí cho tàu vũ trụ MAVEN của NASA, cũng đã đi vào quỹ đạo hành tinh thứ tư trong hệ Mặt Trời từ hôm Chủ nhật.
Ấn Độ đã phóng khoảng 40 vệ tinh cho các nước khác kể từ khi khởi động chương trình không gian cách đây năm thập kỷ, nhưng vẫn chưa sánh được với Trung Quốc.
Tuy vậy, chương trình này cũng vấp phải một số chỉ trích rằng Ấn Độ nên nỗ lực xóa bỏ bất bình đẳng ở một đất nước thiếu nhà vệ sinh trầm trọng hơn là tham gia vào cuộc đua không gian tốn kém.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhyynoGOOCLMoK-lelHkEbw9JpV6UKVOyGPPc3McKb66vZ4HdoQOINhEKYm8BA0BjmCnXysE1LOX4H9bq4jh9Iz3HylU3qp-5zTSV3SKQiNaFUpc0-K3QpdEFXBpXc0psHCKXjriJqAg8yC/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgMLA74SwVOvIxhgzjRVwazeJ92YIPw9MI3y7KxFa4u_x1V3z2CQVG8pvA5xRnM5jHR2AwfU4p6QiENAMZae-H0b2m5iejeM3LauFq6juqNn2Y1bi57_wtOL5lE5NE5CW3re-e3d1-EYpoK/

Rất nhiều người muốn đi vào không gian trên một chiếc thang máy. NASA cũng đã nghiên cứu trong nhiều năm để tìm kiếm những công cụ cần thiết để chế tạo ra chiếc thang máy này. Nhiều công ty khác trên toàn thế giới cũng đang làm công việc tương tự.
Nhật Bản nghiên cứu chế tạo thang máy vào không gian
Mới đây, một công ty xây dựng Nhật Bản có tên Obayashi đã công bố kế hoạch triển khai một thang máy vào không gian đầy đủ chức năng vào năm 2050. ABC cho biết, Obayashi tiết lộ rằng họ đang nghiên cứu để xây dựng một thang máy không gian có chiều dài 96.000km, có khả năng vận chuyển người và hàng hóa vào không gian với chi phí thấp hơn rất nhiều so với phương thức phóng tên lửa từ Trái Đất như hiện tại. Dự tính mất bảy ngày cho mỗi chuyến di chuyển một chiều của thang máy không gian với điểm đến là một trạm vũ trụ đặc biệt được xây dựng dành riêng cho dự án này.
Obayashi cho biết, không dễ để xây dựng được một "thang máy không gian" bởi một số nguyên liệu cần thiết chưa có sẵn ở thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, hãng xây dựng Nhật Bản tin rằng trong tương lai với công nghệ nano carbon phát triển mạnh mẽ sẽ giúp đỡ rất nhiều cho việc hiện thực hóa dự án thang máy không gian.
"Thang máy không gian cần những sợi cáp có độ sức bền cao hơn 100 lần so với cáp thép. Ngay bây giờ chúng tôi chưa thể chế tạo những sợi cáp đủ độ dài cho thang máy. Chúng tôi chỉ có thể chế tạo ống nano dài 3cm, nhưng chúng ta cần nhiều hơn thế. Chúng tôi nghĩ rằng vào năm 2030 chúng tôi sẽ hiện thực hóa được điều đó", Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển của Obayashi, ông Yoji Ishikawa, chia sẻ với ABC.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi6Q2mibGJZ7FzfMBLbtx1fyvGNeie2VPjWedZZnhFTACx_x2mn_qgT0fxREWYjUrd4dnLeplMX3D_NbjaSLrm04YafPkFn9_eU4RtYewng_B9fnf2ITalqQ6UX0Fx_-8QWw7OA1aguinAM/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhiIbHIbr-cKYiqndIlA5uIEn-WCi7wcq1R9K7cWaLFgp-MdIW0JsjW_sLM_8kyEbGDJBr7IEpLvZnXhIWjMUX2SJGhs85E0Ug33qyiGecLCLbEPEXcPVvusnLAgxBMeskPaUSFPP2slUCu/
Vũ trụ
3:41 PM|

Rất nhiều người muốn đi vào không gian trên một chiếc thang máy. NASA cũng đã nghiên cứu trong nhiều năm để tìm kiếm những công cụ cần thiết để chế tạo ra chiếc thang máy này. Nhiều công ty khác trên toàn thế giới cũng đang làm công việc tương tự.
Nhật Bản nghiên cứu chế tạo thang máy vào không gian
Mới đây, một công ty xây dựng Nhật Bản có tên Obayashi đã công bố kế hoạch triển khai một thang máy vào không gian đầy đủ chức năng vào năm 2050. ABC cho biết, Obayashi tiết lộ rằng họ đang nghiên cứu để xây dựng một thang máy không gian có chiều dài 96.000km, có khả năng vận chuyển người và hàng hóa vào không gian với chi phí thấp hơn rất nhiều so với phương thức phóng tên lửa từ Trái Đất như hiện tại. Dự tính mất bảy ngày cho mỗi chuyến di chuyển một chiều của thang máy không gian với điểm đến là một trạm vũ trụ đặc biệt được xây dựng dành riêng cho dự án này.
Obayashi cho biết, không dễ để xây dựng được một "thang máy không gian" bởi một số nguyên liệu cần thiết chưa có sẵn ở thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, hãng xây dựng Nhật Bản tin rằng trong tương lai với công nghệ nano carbon phát triển mạnh mẽ sẽ giúp đỡ rất nhiều cho việc hiện thực hóa dự án thang máy không gian.
"Thang máy không gian cần những sợi cáp có độ sức bền cao hơn 100 lần so với cáp thép. Ngay bây giờ chúng tôi chưa thể chế tạo những sợi cáp đủ độ dài cho thang máy. Chúng tôi chỉ có thể chế tạo ống nano dài 3cm, nhưng chúng ta cần nhiều hơn thế. Chúng tôi nghĩ rằng vào năm 2030 chúng tôi sẽ hiện thực hóa được điều đó", Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển của Obayashi, ông Yoji Ishikawa, chia sẻ với ABC.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi6Q2mibGJZ7FzfMBLbtx1fyvGNeie2VPjWedZZnhFTACx_x2mn_qgT0fxREWYjUrd4dnLeplMX3D_NbjaSLrm04YafPkFn9_eU4RtYewng_B9fnf2ITalqQ6UX0Fx_-8QWw7OA1aguinAM/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhiIbHIbr-cKYiqndIlA5uIEn-WCi7wcq1R9K7cWaLFgp-MdIW0JsjW_sLM_8kyEbGDJBr7IEpLvZnXhIWjMUX2SJGhs85E0Ug33qyiGecLCLbEPEXcPVvusnLAgxBMeskPaUSFPP2slUCu/

Các nhà thiên văn phát hiện ngôi sao xung bên trong một ngôi sao khí khổng lồ cách trái đất khoảng 200.000 năm ánh sáng.
Năm 1975, tiến sĩ Kip Thorne và tiến sĩ Anna Zytkow - hai nhà thiên văn - từng dự đoán về sự tồn tại của ngôi sao trong ngôi sao khác. Họ cho rằng chúng hình thành khi một sao xung (ngôi sao xoay cực nhanh) va chạm với một sao khí khổng lồ. Sau đó sao khí khổng lồ nuốt sao xung. Vì thế ngày nay giới thiên văn gọi những sao như thế là vật thể Thorne-Zytkow.
Lần đầu tiên phát hiện ngôi sao chui vào ngôi sao
Hình minh họa cảnh tượng sao neutron va chạm với sao khí khổng lồ. (Ảnh: NASA)

Những ngôi sao bình thường tồn tại nhờ phản ứng nhiệt hạch trong lõi của chúng, còn sao Thorne-Zytkow tồn tại nhờ ngôi sao xung từ mà nó "nuốt".
Gần 40 năm sau, giới thiên văn mới phát hiện vật thể Thorne-Zytkow đầu tiên. Tiến sĩ Emily Levesque, một nhà thiên văn của Đại học Colorado Boulder tại Mỹ, cùng các cộng sự phát hiện ngôi sao neutron bên trong sao khí sau khi họ quan sát vũ trụ bằng kính thiên văn Magellan Clay (có đường kính tới 6,5m) tại Chile, Daily Mail đưa tin.
HV 2112, tên của ngôi sao khí, cách địa cầu chừng 200.000 năm ánh sáng. "Nghiên cứu những ngôi sao như thế là việc rất thú vị, bởi nó cho chúng ta thấy một kiểu thiên thể hoàn toàn mới", bà Emily bình luận. Sao xung (hay sao neutron) là những thiên thể xoay rất nhanh với biểu hiện như nguồn sóng radio. Mật độ vật chất của sao xung rất lớn. Một sao xung có đường kính 20km có khối lượng tương đương 1,3 tới 2,5 lần mặt trời. Nếu đặt lượng vật chất tương đương ngón tay lên bàn cân, chúng ta sẽ thấy khối lượng của nó lên tới hơn một tỷ tấn.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiBCNy9x7irorqsqCsPvuAPzIVcjoFClXG6P5MntVqC_8Hp-MThKgO79WXw5SFBO0a2qxXi3C-fNHAgs1k94Lm21wfIfx9lNExhKhOxHU1bD2ccw7mleHSpF2EeCHB-mirYlG82jS0dAqck/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhZ-nOo5UU6qbq1n-WhLg7H__ZbZfwUuqlRWmDy1SqXLgucfj6UEblEFrK78QgN_nHFEqcJ972FLS_GrZAG7LY0b6mULOr2b9UyBDUwgj0FtuzPt42oV2STkzgfB283qQtKPPW0HteyUQdF/
Vũ trụ
3:41 PM|

Các nhà thiên văn phát hiện ngôi sao xung bên trong một ngôi sao khí khổng lồ cách trái đất khoảng 200.000 năm ánh sáng.
Năm 1975, tiến sĩ Kip Thorne và tiến sĩ Anna Zytkow - hai nhà thiên văn - từng dự đoán về sự tồn tại của ngôi sao trong ngôi sao khác. Họ cho rằng chúng hình thành khi một sao xung (ngôi sao xoay cực nhanh) va chạm với một sao khí khổng lồ. Sau đó sao khí khổng lồ nuốt sao xung. Vì thế ngày nay giới thiên văn gọi những sao như thế là vật thể Thorne-Zytkow.
Lần đầu tiên phát hiện ngôi sao chui vào ngôi sao
Hình minh họa cảnh tượng sao neutron va chạm với sao khí khổng lồ. (Ảnh: NASA)

Những ngôi sao bình thường tồn tại nhờ phản ứng nhiệt hạch trong lõi của chúng, còn sao Thorne-Zytkow tồn tại nhờ ngôi sao xung từ mà nó "nuốt".
Gần 40 năm sau, giới thiên văn mới phát hiện vật thể Thorne-Zytkow đầu tiên. Tiến sĩ Emily Levesque, một nhà thiên văn của Đại học Colorado Boulder tại Mỹ, cùng các cộng sự phát hiện ngôi sao neutron bên trong sao khí sau khi họ quan sát vũ trụ bằng kính thiên văn Magellan Clay (có đường kính tới 6,5m) tại Chile, Daily Mail đưa tin.
HV 2112, tên của ngôi sao khí, cách địa cầu chừng 200.000 năm ánh sáng. "Nghiên cứu những ngôi sao như thế là việc rất thú vị, bởi nó cho chúng ta thấy một kiểu thiên thể hoàn toàn mới", bà Emily bình luận. Sao xung (hay sao neutron) là những thiên thể xoay rất nhanh với biểu hiện như nguồn sóng radio. Mật độ vật chất của sao xung rất lớn. Một sao xung có đường kính 20km có khối lượng tương đương 1,3 tới 2,5 lần mặt trời. Nếu đặt lượng vật chất tương đương ngón tay lên bàn cân, chúng ta sẽ thấy khối lượng của nó lên tới hơn một tỷ tấn.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiBCNy9x7irorqsqCsPvuAPzIVcjoFClXG6P5MntVqC_8Hp-MThKgO79WXw5SFBO0a2qxXi3C-fNHAgs1k94Lm21wfIfx9lNExhKhOxHU1bD2ccw7mleHSpF2EeCHB-mirYlG82jS0dAqck/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhZ-nOo5UU6qbq1n-WhLg7H__ZbZfwUuqlRWmDy1SqXLgucfj6UEblEFrK78QgN_nHFEqcJ972FLS_GrZAG7LY0b6mULOr2b9UyBDUwgj0FtuzPt42oV2STkzgfB283qQtKPPW0HteyUQdF/

Kết quả một nghiên cứu mới đây cho biết trong khoảng 5 tỷ năm tới, dải Ngân Hà sẽ bị nuốt trọn bởi một “người hàng xóm” - thiên hà Andromeda, hay còn gọi là thiên hà Tiên nữ.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các thiên hà khổng lồ trong vũ trụ đã dừng việc tạo các sao mới và đang có xu hướng “ăn” các thiên hà khác để phát triển.
Các nhà thiên văn đã quan sát hơn 22.000 thiên hà khác nhau và thấy rằng hoạt động tạo sao mới từ các chất khí được thực hiện một cách hiệu quả hơn bởi những thiên hà nhỏ; trong khi các thiên hà lớn lại tăng trưởng nhờ vào việc tiêu thụ những thiên hà khác, thay vì sản sinh thêm các sao.
Thiên hà Tiên Nữ sẽ nuốt dải Ngân Hà của chúng ta?
Ảnh: Reuters

Những thông tin chi tiết về nghiên cứu đã được tạp chí hàng tháng của Hiệp hội Thiên văn Hoàng gia Anh đăng tải vào thứ Sáu vừa qua.
“Ban đầu, mọi thiên hà đều nhỏ, và chỉ lớn lên bằng cách thu thập các chất khí và biến chúng thành những ngôi sao", Aaron Robotham, tác giả chính của nghiên cứu, hiện đang làm việc tại Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Thiên văn học Vô tuyến (ICRAR) thuộc Đại học Tây Australia cho biết. “Thỉnh thoảng, những thiên hà này lại bị "xơi tái" bởi các thiên hà khác lớn hơn rất nhiều".
Về phần mình, dải Ngân Hà của chúng ta được dự kiến sẽ tăng kích thước bằng việc tiêu thụ hai thiên hà hình lùn bên cạnh - đám mây Magellan Lớn và Nhỏ - trong khoảng 4 tỷ năm, cho tới khi bản thân dải Ngân Hà cũng sẽ bị “nuốt” bởi thiên hà Andromeda trong vòng 5 tỷ năm tới.
“Về mặt kỹ thuật, Andromeda sẽ ‘ăn’ chúng ta, bởi nó là thiên hà lớn hơn", Robotham cho biết.
Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu thu thập từ kính viễn vọng Anglo-Australian được đặt tại New South Wales, Australia với tư cách một phần của cuộc khảo sát mang tên Galaxy And Mass Assembly (GAMA), đứng đầu là giáo sư Simon Driver thuộc ICRAR.
Cuộc khảo sát này được hoàn thành sau 7 năm, với sự tham gia của hơn 90 nhà khoa học.
Robotham cho biết khi các thiên hà phát triển, chúng tạo ra lực hấp dẫn lớn hơn và có thể dễ dàng hút những thiên hà lân cận. Sức hút này sẽ tập hợp các cụm thiên hà rải rác, tạo thành một vài thiên hà khổng lồ. Tuy nhiên, quá trình này phải mất vài tỷ năm mới hoàn thành.
“Nếu bạn chờ đợi trong một thời gian rất, rất, rất dài, thì quá trình này cuối cùng cũng sẽ xảy ra, nhưng thời gian chờ đợi của bạn sẽ phải gấp nhiều lần tuổi của vũ trụ hiện nay", Robottham cho biết.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjpMWibQr2oaPJr7EQ_36jRrc78vDxmNbnqbSpP8hi_7hjeKP-F8PG9kkKS9fubrO3CF4Y9pvDTT-_S81N3blXvkpwTakVjxupsgkfE24ISbMSVvIIBn-zaODe-PTkzKbT-MW0NufHsNWh4/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg6i8hoJPyL-NtZeS0yevrhLQY3SkkTZujm3k6SnqU-K73d7nbuLPKzK9GHRa4aQG7sf43vbTO-c1AUNfoipNQ8DsTELGF6y9TZGSr8Wn9nRVubternQL9gnTxblRxDhZuKqhpBSKZF4Y1u/
Vũ trụ
3:40 PM|

Kết quả một nghiên cứu mới đây cho biết trong khoảng 5 tỷ năm tới, dải Ngân Hà sẽ bị nuốt trọn bởi một “người hàng xóm” - thiên hà Andromeda, hay còn gọi là thiên hà Tiên nữ.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các thiên hà khổng lồ trong vũ trụ đã dừng việc tạo các sao mới và đang có xu hướng “ăn” các thiên hà khác để phát triển.
Các nhà thiên văn đã quan sát hơn 22.000 thiên hà khác nhau và thấy rằng hoạt động tạo sao mới từ các chất khí được thực hiện một cách hiệu quả hơn bởi những thiên hà nhỏ; trong khi các thiên hà lớn lại tăng trưởng nhờ vào việc tiêu thụ những thiên hà khác, thay vì sản sinh thêm các sao.
Thiên hà Tiên Nữ sẽ nuốt dải Ngân Hà của chúng ta?
Ảnh: Reuters

Những thông tin chi tiết về nghiên cứu đã được tạp chí hàng tháng của Hiệp hội Thiên văn Hoàng gia Anh đăng tải vào thứ Sáu vừa qua.
“Ban đầu, mọi thiên hà đều nhỏ, và chỉ lớn lên bằng cách thu thập các chất khí và biến chúng thành những ngôi sao", Aaron Robotham, tác giả chính của nghiên cứu, hiện đang làm việc tại Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Thiên văn học Vô tuyến (ICRAR) thuộc Đại học Tây Australia cho biết. “Thỉnh thoảng, những thiên hà này lại bị "xơi tái" bởi các thiên hà khác lớn hơn rất nhiều".
Về phần mình, dải Ngân Hà của chúng ta được dự kiến sẽ tăng kích thước bằng việc tiêu thụ hai thiên hà hình lùn bên cạnh - đám mây Magellan Lớn và Nhỏ - trong khoảng 4 tỷ năm, cho tới khi bản thân dải Ngân Hà cũng sẽ bị “nuốt” bởi thiên hà Andromeda trong vòng 5 tỷ năm tới.
“Về mặt kỹ thuật, Andromeda sẽ ‘ăn’ chúng ta, bởi nó là thiên hà lớn hơn", Robotham cho biết.
Nghiên cứu này dựa trên dữ liệu thu thập từ kính viễn vọng Anglo-Australian được đặt tại New South Wales, Australia với tư cách một phần của cuộc khảo sát mang tên Galaxy And Mass Assembly (GAMA), đứng đầu là giáo sư Simon Driver thuộc ICRAR.
Cuộc khảo sát này được hoàn thành sau 7 năm, với sự tham gia của hơn 90 nhà khoa học.
Robotham cho biết khi các thiên hà phát triển, chúng tạo ra lực hấp dẫn lớn hơn và có thể dễ dàng hút những thiên hà lân cận. Sức hút này sẽ tập hợp các cụm thiên hà rải rác, tạo thành một vài thiên hà khổng lồ. Tuy nhiên, quá trình này phải mất vài tỷ năm mới hoàn thành.
“Nếu bạn chờ đợi trong một thời gian rất, rất, rất dài, thì quá trình này cuối cùng cũng sẽ xảy ra, nhưng thời gian chờ đợi của bạn sẽ phải gấp nhiều lần tuổi của vũ trụ hiện nay", Robottham cho biết.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjpMWibQr2oaPJr7EQ_36jRrc78vDxmNbnqbSpP8hi_7hjeKP-F8PG9kkKS9fubrO3CF4Y9pvDTT-_S81N3blXvkpwTakVjxupsgkfE24ISbMSVvIIBn-zaODe-PTkzKbT-MW0NufHsNWh4/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg6i8hoJPyL-NtZeS0yevrhLQY3SkkTZujm3k6SnqU-K73d7nbuLPKzK9GHRa4aQG7sf43vbTO-c1AUNfoipNQ8DsTELGF6y9TZGSr8Wn9nRVubternQL9gnTxblRxDhZuKqhpBSKZF4Y1u/
Theo một chuyên gia hàng đầu của Cơ quan vũ trụ Mỹ (NASA), con người sẽ sớm có các khu định cư trên quỹ đạo Trái đất vào cuối thế kỷ này.
Tiến sĩ Al Globus, chuyên gia về định cư không gian tại Viện nghiên cứu Ames của NASA, có nhiều năm làm việc với chương trình kính viễn vọng không gian Hubble, Trạm Không gian Quốc tế (ISS), tàu con thoi và nhiều chương trình khác.

Tiến sĩ Al Globus dự đoán con người sẽ định cư trên quỹ đạo Trái đất trong 100 năm tới.

Các đây vài thập kỷ, tiến sĩ Al Globus bắt đầu quan tâm tới khả năng định cư trên không gian và sau đó ông đã tổ chức hàng năm cuộc thi Định cư không gian, nhằm khuyến khích sinh viên thiết kế các mô hình khu định cư trên không gian dành cho con người. Ông tin tưởng con người sẽ sớm thăm các thành phố trên quỹ đạo Trái đất giống như họ di chuyển từ London tới New York.
“Khu định cư không gian sẽ xảy ra hay không thực sự rất khó nói trước”, tiến sĩ Globus cho biết. “Nếu con người quyết định làm điều đó, chúng ta có thể làm được. Chúng ta có khả năng khoa học, tài chính, thì không có lý do gì chúng ta không thể làm được”.
Tiến sĩ Globus, người đang cùng các nhà khoa học vũ trụ khác như chủ tịch tập đoàn SpaceX, Elon Musk, nghiên cứu nơi con người có thể sống trên sao Hỏa trong tương lai, giải thích công nghệ mà chúng ta biết chỉ gia tăng trừ phi một thảm họa lớn như chiến tranh hạt nhân xảy ra.
“Nếu không có thảm hỏa lớn nào trong vài thế kỷ tới, tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu chúng ta không có khu định cư không gian. Chúng ta có thể xây dựng khu định cư không gian trong vài thập kỷ nữa, chắc chắn không đến 1 thế kỷ”, ông Globus quả quyết.
Theo tiến sĩ Globus, một khu định cư không gian có thể giống như một thị trấn hay thành phố trên Trái đất. Nó có mục đích giống như bất cứ thị trấn, khu định cư hay thành phố nào trên Trái đất. Đó sẽ là một nơi để sống, nuôi con cái hay cùng bạn bè và gia đình chung vui trong các kỳ nghỉ lễ.
Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đặt lại.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhLChoTYvLj-twIHJ2itOB5zArGdqAOSW4rycPUTVOV2qYDQPjJnkvhoxMVah9tEfIxfaNYciumeyE61Rc2I6603zj98N0gyn3HwawbMnjzlfUbaKInVu2kriR4HzhB1JM83ixEG9_LaWXo/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiObuIeg-CImbUDqDY6Bv_uTI13318cizwHuf4NYNLd7ChYbUnEjUsH4Ui0Cgc1TRNpsEcvam0APVrGoiZUO0oRlFIYMe7VOH97e4U0tCWgWVRWmz5RO0Xs8nty9hxdYwdn5KxpS_3wkCl7/
Vũ trụ
3:40 PM|
Theo một chuyên gia hàng đầu của Cơ quan vũ trụ Mỹ (NASA), con người sẽ sớm có các khu định cư trên quỹ đạo Trái đất vào cuối thế kỷ này.
Tiến sĩ Al Globus, chuyên gia về định cư không gian tại Viện nghiên cứu Ames của NASA, có nhiều năm làm việc với chương trình kính viễn vọng không gian Hubble, Trạm Không gian Quốc tế (ISS), tàu con thoi và nhiều chương trình khác.

Tiến sĩ Al Globus dự đoán con người sẽ định cư trên quỹ đạo Trái đất trong 100 năm tới.

Các đây vài thập kỷ, tiến sĩ Al Globus bắt đầu quan tâm tới khả năng định cư trên không gian và sau đó ông đã tổ chức hàng năm cuộc thi Định cư không gian, nhằm khuyến khích sinh viên thiết kế các mô hình khu định cư trên không gian dành cho con người. Ông tin tưởng con người sẽ sớm thăm các thành phố trên quỹ đạo Trái đất giống như họ di chuyển từ London tới New York.
“Khu định cư không gian sẽ xảy ra hay không thực sự rất khó nói trước”, tiến sĩ Globus cho biết. “Nếu con người quyết định làm điều đó, chúng ta có thể làm được. Chúng ta có khả năng khoa học, tài chính, thì không có lý do gì chúng ta không thể làm được”.
Tiến sĩ Globus, người đang cùng các nhà khoa học vũ trụ khác như chủ tịch tập đoàn SpaceX, Elon Musk, nghiên cứu nơi con người có thể sống trên sao Hỏa trong tương lai, giải thích công nghệ mà chúng ta biết chỉ gia tăng trừ phi một thảm họa lớn như chiến tranh hạt nhân xảy ra.
“Nếu không có thảm hỏa lớn nào trong vài thế kỷ tới, tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu chúng ta không có khu định cư không gian. Chúng ta có thể xây dựng khu định cư không gian trong vài thập kỷ nữa, chắc chắn không đến 1 thế kỷ”, ông Globus quả quyết.
Theo tiến sĩ Globus, một khu định cư không gian có thể giống như một thị trấn hay thành phố trên Trái đất. Nó có mục đích giống như bất cứ thị trấn, khu định cư hay thành phố nào trên Trái đất. Đó sẽ là một nơi để sống, nuôi con cái hay cùng bạn bè và gia đình chung vui trong các kỳ nghỉ lễ.
Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đặt lại.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhLChoTYvLj-twIHJ2itOB5zArGdqAOSW4rycPUTVOV2qYDQPjJnkvhoxMVah9tEfIxfaNYciumeyE61Rc2I6603zj98N0gyn3HwawbMnjzlfUbaKInVu2kriR4HzhB1JM83ixEG9_LaWXo/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiObuIeg-CImbUDqDY6Bv_uTI13318cizwHuf4NYNLd7ChYbUnEjUsH4Ui0Cgc1TRNpsEcvam0APVrGoiZUO0oRlFIYMe7VOH97e4U0tCWgWVRWmz5RO0Xs8nty9hxdYwdn5KxpS_3wkCl7/

Sử dụng phân của trẻ sơ sinh để làm xúc xích, thịt lợn giúp ngăn chặn chảy máu cam... là những nghiên cứu được nhận giải Ig Nobel lần này.
Tại sảnh đường trường ĐH Harvard (Mỹ), Ig Nobel lần thứ 24 năm nay vẫn tiếp tục truyền thống trao giải cho những thành tựu khoa học theo tiêu chí "đầu tiên làm con người cười, sau đó làm họ suy nghĩ".
Nhiều nhà khoa học cảm thấy vô cùng thích thú trước lễ trao giải Ig Nobel - giải thưởng "nhái" lại giải Nobel danh giá. Buổi lễ trao giải này giống hệt Nobel, vinh danh đầy đủ thành tựu về các lĩnh vực khoa học và nghiên cứu. Chỉ khác là, Ig Nobel thiên về những phát hiện hài hước, gây bất ngờ tới mức... nhảm nhí.
Dưới đây là 10 giải thưởng Ig Nobel được trao trong năm 2014 này.

Ig Nobel Thần kinh học: lý giải vì sao nhiều người nhìn thấy Chúa Jesus trên bánh mì nướng

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Giải này được trao cho nghiên cứu của một nhóm các nhà khoa học Trung Quốc đăng trên tạp chí Cortex tháng 4/2014. Theo đó, họ đã tiến hành chụp fRMI não của các tình nguyện viên khi được xem các khuôn mặt khác nhau.
Kết quả thu được chứng minh rằng: con người có xu hướng nhìn theo kỳ vọng, nghĩa là ta sẽ nhìn thấy những gì ta muốn thấy. Khi nhìn thấy một hình thù không rõ ràng, não bộ kích thích hoạt động của một vùng thần kinh đặc biệt, cho phép ta tưởng tượng ra điều mà ta muốn nhìn thấy. Đó là lý do rất nhiều người luôn cho rằng họ nhìn thấy Chúa Jesus hay Đức mẹ Maria trên… mặt bánh mì nướng.

Ig Nobel Tâm lý học: cú đêm có xu hướng thích… tự sướng

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Giải Ig Nobel thuộc hạng mục này được trao cho Peter K.Jonason, Amy Jones và Minna Lyons vì tìm ra một đặc điểm tính cách đặc biệt của các cú đêm.
Theo đó, trong nghiên cứu của họ được đăng vào năm 2013 trên tờ Personality and Individual Differences, những người thức khuya có xu hướng dễ bị tâm thần hơn so với người thích dậy sớm. Ngoài ra, họ thường tự ngưỡng mộ và luôn yêu bản thân mình quá mức hơn so với những người hay dậy sớm.

Ig Nobel Y tế công cộng: nuôi mèo rất nguy hiểm

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Tại hạng mục Y tế công cộng, Jaroslav Flegr, Jan Havlicek và các đồng sự được trao giải Ig Nobel với nghiên cứu về tác hại của việc nuôi mèo. Công trình này được công bố năm 2013 trên tạp chí trực tuyến PLOS ONE.
Theo đó, các nhà nghiên cứu trên phát hiện ra việc bị mèo cắn có thể gây nên tình trạng trầm cảm ở con người. Ngoài ra, lông mèo có chứa một kí sinh trùng đáng sợ có tên Toxoplasma gondii. Nếu bị nhiễm kí sinh trùng này, chúng sẽ xâm nhập vào não và gây nên biến đổi trong trung ương thần kinh của vật chủ, dẫn tới các rối loạn tâm thần và các bệnh lý khác.

Ig Nobel Sinh học: Phát hiện chó “giải quyết nỗi buồn” theo từ trường Trái đất

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Vlastimil Hart, Petra Novakova và các cộng sự đã được vinh danh tại hạng mục Ig Nobel về sinh học sau khi phát hiện ra một hành động vô cùng kì lạ chỉ thấy ở loài chó. Cụ thể, loài này khi “giải quyết nỗi buồn” thường quay mặt về cực Bắc và hướng vòng ba của mình về cực Nam theo đúng trục của từ trường Trái đất.
Phát hiện này được kiểm chứng sau khi các chuyên gia tiến hành thử nghiệm trên 37 giống chó khác nhau. Kết quả là 100% đều có thói quen như vậy. Tuy nhiên cho tới nay, vẫn chưa có nhà khoa học nào lý giải cơ chế giúp chó nhận biết được hướng từ trường để… đi vệ sinh cho đúng.

Ig Nobel Nghệ thuật: Nhìn một bức tranh xấu xí khiến con người… đau

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Marina de Tommaso, Michele Sardaro và các đồng nghiệp của mình đã nhận được giải Ig Nobel trong lĩnh vực nghệ thuật với việc chứng minh nghệ thuật xấu xí có thể làm đau con người.
Trong nghiên cứu của mình, các chuyên gia đã tiến hành đo mức độ đau của các tình nguyện viên khi chiếu laser vào bàn tay họ trong lúc ngắm các bức tranh khác nhau. Sau thí nghiệm, họ nhận thấy rằng: các tình nguyện viên cảm thấy đau hơn khi nhìn những tác phẩm xấu xí so với các tác phẩm đẹp đẽ.

Ig Nobel Vật lý: phát minh đi trên vỏ chuối

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Giải Ig Nobel Vật lý đã thuộc về nhóm các chuyên gia Nhật Bản Kiyoshi Mabuchi, Kensei Tanaka, Daichi Uchijima và Rina Sakai. Nghiên cứu đạt giải của họ được đăng trên tờ Tribology năm 2012.
Theo đó, nhóm chuyên gia trên đã tiến hành thử nghiệm đặt 12 vỏ chuối khác nhau dưới sàn rồi cho tình nguyện viên đi giày lên trên bề mặt đó. Sau thí nghiệm, họ tính toán và thu được kết quả: ma sát giữa giầy và vỏ chuối chỉ bằng 20% so với ma sát giữa giày với sàn thông thường.
Với kết quả trên, nhóm chuyên gia đã ví sàn “vỏ chuối” cũng tương tự như bề mặt tuyết với hệ số ma sát rất nhỏ. Trong tương lai, nghiên cứu này có thể mở ra một công nghệ sản xuất vật liệu bề mặt mới.

Ig Nobel Kinh tế: ý tưởng phát triển nền kinh tế từ việc thu hồi vốn kinh doanh

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Các nhà khoa học Ý được vinh danh trong hạng mục Ig Nobel Kinh tế trong việc sáng tạo nhằm thúc đẩy nền kinh tế của các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu.
Theo đó, ý tưởng này được thực hiện bằng cách thu hồi vốn kinh doanh từ dịch vụ mại dâm, buôn bán ma túy, buôn lậu hay các giao dịch tài chính bất hợp pháp khác.

Ig Nobel Y tế: Sử dụng thịt lợn để ngăn chặn chảy máu cam

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Nhóm các nhà khoa học đến từ Hoa Kỳ, Ấn Độ đã được trao giải thưởng Ig Nobel Y học cho phát kiến sử dụng thịt lợn để ngăn việc chảy máu cam.
Theo đó, các chuyên gia nhận thấy thịt heo có tác dụng tốt trong việc kiểm soát và ngăn chặn không cho máu cam bị chảy ra ngoài.
Để rút ra được kết quả này, các chuyên gia đã tiến hành thử nghiệm với một cậu bé 4 tuổi hay bị mắc chứng chảy máu cam. Và đương nhiên, miếng thịt lợn được cuộn nhỏ, đưa vào trong mũi đã giảm thiểu hiện tượng này.

Ig Nobel Khoa học Bắc Cực: thử nghiệm cách tuần lộc phản ứng với con người khi cải trang thành gấu Bắc Cực

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Với ý tưởng thử nghiệm mối tương tác giữa những chú tuần lộc với con người khi được cải trang thành gấu Bắc Cực, hai nhà khoa học Eigil Reimers và Sindre Eftestol được vinh danh ở hạng mục Khoa học Bắc Cực.
Sau khi cải trang thành gấu Bắc Cực, các chuyên gia đã nhận thấy ngay cả gấu Bắc Cực cũng ăn thịt cả đồng loại của mình.

Ig Nobel Dinh dưỡng: sử dụng vi sinh vật từ phân của trẻ sơ sinh để chế tạo xúc xích

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Nhà khoa học Raquel Rubio, Anna Jofra, Belen Martin, Teresa Aymerich và Margarita Garriga đã được vinh danh với nghiên cứu sử dụng vi sinh vật trong phân của trẻ sơ sinh 1- 6 tháng tuổi để chế tạo ra những thanh xúc xích.
Theo đó, các chuyên gia cho rằng, Lactobacillus gasseri và Enterococcus faecalis đóng vai trò quan trọng trong quá trình lên men nhiều thực phẩm, đặc biệt là xúc xích. Chúng có tác dụng tăng hương vị, màu sắc và độ an toàn cho xúc xích. Do đó, chúng ta không nên lãng phí một nguồn tài nguyên quý giá, có ý nghĩa trong chế biến thực phẩm như vậy.
Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đặt lại.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgfFCFocXpONO2o8BvnPpCJA4vaPqI2lK3FbSYOXhD8eF9qkADMMVsFXPmYAMAKNkhj0y6i_mZR2MREWVX6v9PqigpgBOf-xvs68_BQm3kvXWQIBdZZw8-l6KOF8LVj2mqvoPSEfl6QiSLq/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjhCn3MZmkcsR3TjWDzlV9rBUpsRJ1WWX5U19Gh2C5IztNeIoIBaVFkVNNcfP4wU1YAn79DltipMdW6Bx1hn011YdjciAkkmarPY64zt0YyiG4vL-HQ8-H3GmUL9mSQmX38OiPzT9Ow7aAp/
Phát minh
9:27 AM|

Sử dụng phân của trẻ sơ sinh để làm xúc xích, thịt lợn giúp ngăn chặn chảy máu cam... là những nghiên cứu được nhận giải Ig Nobel lần này.
Tại sảnh đường trường ĐH Harvard (Mỹ), Ig Nobel lần thứ 24 năm nay vẫn tiếp tục truyền thống trao giải cho những thành tựu khoa học theo tiêu chí "đầu tiên làm con người cười, sau đó làm họ suy nghĩ".
Nhiều nhà khoa học cảm thấy vô cùng thích thú trước lễ trao giải Ig Nobel - giải thưởng "nhái" lại giải Nobel danh giá. Buổi lễ trao giải này giống hệt Nobel, vinh danh đầy đủ thành tựu về các lĩnh vực khoa học và nghiên cứu. Chỉ khác là, Ig Nobel thiên về những phát hiện hài hước, gây bất ngờ tới mức... nhảm nhí.
Dưới đây là 10 giải thưởng Ig Nobel được trao trong năm 2014 này.

Ig Nobel Thần kinh học: lý giải vì sao nhiều người nhìn thấy Chúa Jesus trên bánh mì nướng

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Giải này được trao cho nghiên cứu của một nhóm các nhà khoa học Trung Quốc đăng trên tạp chí Cortex tháng 4/2014. Theo đó, họ đã tiến hành chụp fRMI não của các tình nguyện viên khi được xem các khuôn mặt khác nhau.
Kết quả thu được chứng minh rằng: con người có xu hướng nhìn theo kỳ vọng, nghĩa là ta sẽ nhìn thấy những gì ta muốn thấy. Khi nhìn thấy một hình thù không rõ ràng, não bộ kích thích hoạt động của một vùng thần kinh đặc biệt, cho phép ta tưởng tượng ra điều mà ta muốn nhìn thấy. Đó là lý do rất nhiều người luôn cho rằng họ nhìn thấy Chúa Jesus hay Đức mẹ Maria trên… mặt bánh mì nướng.

Ig Nobel Tâm lý học: cú đêm có xu hướng thích… tự sướng

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Giải Ig Nobel thuộc hạng mục này được trao cho Peter K.Jonason, Amy Jones và Minna Lyons vì tìm ra một đặc điểm tính cách đặc biệt của các cú đêm.
Theo đó, trong nghiên cứu của họ được đăng vào năm 2013 trên tờ Personality and Individual Differences, những người thức khuya có xu hướng dễ bị tâm thần hơn so với người thích dậy sớm. Ngoài ra, họ thường tự ngưỡng mộ và luôn yêu bản thân mình quá mức hơn so với những người hay dậy sớm.

Ig Nobel Y tế công cộng: nuôi mèo rất nguy hiểm

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Tại hạng mục Y tế công cộng, Jaroslav Flegr, Jan Havlicek và các đồng sự được trao giải Ig Nobel với nghiên cứu về tác hại của việc nuôi mèo. Công trình này được công bố năm 2013 trên tạp chí trực tuyến PLOS ONE.
Theo đó, các nhà nghiên cứu trên phát hiện ra việc bị mèo cắn có thể gây nên tình trạng trầm cảm ở con người. Ngoài ra, lông mèo có chứa một kí sinh trùng đáng sợ có tên Toxoplasma gondii. Nếu bị nhiễm kí sinh trùng này, chúng sẽ xâm nhập vào não và gây nên biến đổi trong trung ương thần kinh của vật chủ, dẫn tới các rối loạn tâm thần và các bệnh lý khác.

Ig Nobel Sinh học: Phát hiện chó “giải quyết nỗi buồn” theo từ trường Trái đất

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Vlastimil Hart, Petra Novakova và các cộng sự đã được vinh danh tại hạng mục Ig Nobel về sinh học sau khi phát hiện ra một hành động vô cùng kì lạ chỉ thấy ở loài chó. Cụ thể, loài này khi “giải quyết nỗi buồn” thường quay mặt về cực Bắc và hướng vòng ba của mình về cực Nam theo đúng trục của từ trường Trái đất.
Phát hiện này được kiểm chứng sau khi các chuyên gia tiến hành thử nghiệm trên 37 giống chó khác nhau. Kết quả là 100% đều có thói quen như vậy. Tuy nhiên cho tới nay, vẫn chưa có nhà khoa học nào lý giải cơ chế giúp chó nhận biết được hướng từ trường để… đi vệ sinh cho đúng.

Ig Nobel Nghệ thuật: Nhìn một bức tranh xấu xí khiến con người… đau

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Marina de Tommaso, Michele Sardaro và các đồng nghiệp của mình đã nhận được giải Ig Nobel trong lĩnh vực nghệ thuật với việc chứng minh nghệ thuật xấu xí có thể làm đau con người.
Trong nghiên cứu của mình, các chuyên gia đã tiến hành đo mức độ đau của các tình nguyện viên khi chiếu laser vào bàn tay họ trong lúc ngắm các bức tranh khác nhau. Sau thí nghiệm, họ nhận thấy rằng: các tình nguyện viên cảm thấy đau hơn khi nhìn những tác phẩm xấu xí so với các tác phẩm đẹp đẽ.

Ig Nobel Vật lý: phát minh đi trên vỏ chuối

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Giải Ig Nobel Vật lý đã thuộc về nhóm các chuyên gia Nhật Bản Kiyoshi Mabuchi, Kensei Tanaka, Daichi Uchijima và Rina Sakai. Nghiên cứu đạt giải của họ được đăng trên tờ Tribology năm 2012.
Theo đó, nhóm chuyên gia trên đã tiến hành thử nghiệm đặt 12 vỏ chuối khác nhau dưới sàn rồi cho tình nguyện viên đi giày lên trên bề mặt đó. Sau thí nghiệm, họ tính toán và thu được kết quả: ma sát giữa giầy và vỏ chuối chỉ bằng 20% so với ma sát giữa giày với sàn thông thường.
Với kết quả trên, nhóm chuyên gia đã ví sàn “vỏ chuối” cũng tương tự như bề mặt tuyết với hệ số ma sát rất nhỏ. Trong tương lai, nghiên cứu này có thể mở ra một công nghệ sản xuất vật liệu bề mặt mới.

Ig Nobel Kinh tế: ý tưởng phát triển nền kinh tế từ việc thu hồi vốn kinh doanh

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Các nhà khoa học Ý được vinh danh trong hạng mục Ig Nobel Kinh tế trong việc sáng tạo nhằm thúc đẩy nền kinh tế của các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu.
Theo đó, ý tưởng này được thực hiện bằng cách thu hồi vốn kinh doanh từ dịch vụ mại dâm, buôn bán ma túy, buôn lậu hay các giao dịch tài chính bất hợp pháp khác.

Ig Nobel Y tế: Sử dụng thịt lợn để ngăn chặn chảy máu cam

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Nhóm các nhà khoa học đến từ Hoa Kỳ, Ấn Độ đã được trao giải thưởng Ig Nobel Y học cho phát kiến sử dụng thịt lợn để ngăn việc chảy máu cam.
Theo đó, các chuyên gia nhận thấy thịt heo có tác dụng tốt trong việc kiểm soát và ngăn chặn không cho máu cam bị chảy ra ngoài.
Để rút ra được kết quả này, các chuyên gia đã tiến hành thử nghiệm với một cậu bé 4 tuổi hay bị mắc chứng chảy máu cam. Và đương nhiên, miếng thịt lợn được cuộn nhỏ, đưa vào trong mũi đã giảm thiểu hiện tượng này.

Ig Nobel Khoa học Bắc Cực: thử nghiệm cách tuần lộc phản ứng với con người khi cải trang thành gấu Bắc Cực

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Với ý tưởng thử nghiệm mối tương tác giữa những chú tuần lộc với con người khi được cải trang thành gấu Bắc Cực, hai nhà khoa học Eigil Reimers và Sindre Eftestol được vinh danh ở hạng mục Khoa học Bắc Cực.
Sau khi cải trang thành gấu Bắc Cực, các chuyên gia đã nhận thấy ngay cả gấu Bắc Cực cũng ăn thịt cả đồng loại của mình.

Ig Nobel Dinh dưỡng: sử dụng vi sinh vật từ phân của trẻ sơ sinh để chế tạo xúc xích

Những phát minh nhận giải Ig nobel 2014
Nhà khoa học Raquel Rubio, Anna Jofra, Belen Martin, Teresa Aymerich và Margarita Garriga đã được vinh danh với nghiên cứu sử dụng vi sinh vật trong phân của trẻ sơ sinh 1- 6 tháng tuổi để chế tạo ra những thanh xúc xích.
Theo đó, các chuyên gia cho rằng, Lactobacillus gasseri và Enterococcus faecalis đóng vai trò quan trọng trong quá trình lên men nhiều thực phẩm, đặc biệt là xúc xích. Chúng có tác dụng tăng hương vị, màu sắc và độ an toàn cho xúc xích. Do đó, chúng ta không nên lãng phí một nguồn tài nguyên quý giá, có ý nghĩa trong chế biến thực phẩm như vậy.
Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đặt lại.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgfFCFocXpONO2o8BvnPpCJA4vaPqI2lK3FbSYOXhD8eF9qkADMMVsFXPmYAMAKNkhj0y6i_mZR2MREWVX6v9PqigpgBOf-xvs68_BQm3kvXWQIBdZZw8-l6KOF8LVj2mqvoPSEfl6QiSLq/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjhCn3MZmkcsR3TjWDzlV9rBUpsRJ1WWX5U19Gh2C5IztNeIoIBaVFkVNNcfP4wU1YAn79DltipMdW6Bx1hn011YdjciAkkmarPY64zt0YyiG4vL-HQ8-H3GmUL9mSQmX38OiPzT9Ow7aAp/

Thiết bị hiện đại này sử dụng các hạt từ trường để hút sạch vi khuẩn và độc tố ra khỏi máu bệnh nhân.
Ngày 18/9, các nhà nghiên cứu Mỹ tuyên bố họ đã phát minh ra một thiết bị từ trường đặc biệt có thể “hút” được các vi khuẩn, virus và độc tố ra khỏi máu của bệnh nhân để giúp họ điều trị Ebola.
Ông Joo Kang, nghiên cứu viên tại Viện nghiên cứu Kỹ thuật Sinh học Wyss thuốc đại học Harvard cho hay: “Chúng tôi tìm cách mô phỏng chức năng và vi cấu trúc của lá lách để có thể liên tục loại bỏ mầm bệnh ra khỏi máu bệnh nhân”.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Thiết bị lọc máu bằng công nghệ sinh học mới được phát minh

Thiết bị từ trường do các nhà nghiên cứu phát mình có thể “hút” các tác nhân gây bệnh, kể cả virus Ebola ra khỏi máu của người bệnh, sau đó đẩy máu sạch trở lại vào cơ thể họ.
Ông Kang và các đồng nghiệp sử dụng một “lá lách sinh học” để thử nghiệm trên chuột bạch bị nhiễm tụ cầu khuẩn và E. Coli, hai loại vi khuẩn gây nhiễm trùng máu nguy hiểm nhất ở người. Kết quả là “lá lách sinh học” của họ đã lọc sạch được 90% vi khuẩn trong máu của những con chuột thí nghiệm, đồng thời tăng khả năng sống sót của chúng.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Một hạt từ trường (màu xanh) giữ chặt vi khuẩn E. Coli

Khi áp dụng trên người, máu của bệnh nhân sẽ được chảy qua một ống lọc với tốc độ 1,25 lít một giờ. Bên trong ống lọc, máu sẽ được trộn với những hạt từ trường rất nhỏ được bọc bằng một loại protein có khả năng giữ lại toàn bộ những mầm bệnh và chất độc.
Sau đó, bên trong những kênh nhỏ của thiết bị, một nam châm sẽ hút toàn bộ các hạt từ trường ra khỏi dòng máu. Những hạt từ trường này khi bị hút lên sẽ mang theo toàn bộ những mầm bệnh và độc tố mà chúng đang giữ lại.
Lúc này, máu nhiễm khuẩn và nhiễm độc sẽ trở thành máu sạch, và được đẩy trở lại cơ thể của bệnh nhân.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Cận cảnh thiết bị lọc máu có thể hút sạch mầm bệnh và độc tố

Loại protein tự nhiên mà các nhà khoa học sử dụng để bọc các hạt từ trường có tên gọi là opsonin. Opsonin là một thành phần trong hệ miễn dịch của người và có khả năng giữ lại đường trên bề mặt tất cả các loại vi khuẩn và nấm.
Để có thể gắn opsonin vào các hạt từ trường, ông Kang và đồng nghiệp đã thay đổi cấu trúc của protein này bằng công nghệ gene.
Công nghệ này hứa hẹn sẽ phát huy hiệu quả rất cao ở những bệnh nhân nhiễm virus Ebola, một loại virus nguy hiểm gây ra hiện tượng nhiễm độc máu nghiêm trọng cho bệnh nhân.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Virus Ebola nhìn dưới kính hiển vi

Một thành viên nhóm nghiên cứu cho biết: “Loại protein mà chúng tôi sử dụng có khả năng giữ lại virus Ebola trong ống nghiệm, do đó chúng tôi cho rằng nó có thể được sử dụng để điều trị cho các bệnh nhân nhiễm Ebola”.
Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu này sẽ tiếp tục thử nghiệm công nghệ và thiết bị mới này trên các động vật lớn hơn, và sau đó sẽ thử nghiệm chính thức trên người để chứng minh hiệu quả của nó.
Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đặt lại.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjBUcoX7K7j3SEEOiasyizHXf9fuo5O_SJnEJXtEMAXjL2r9fi1u8QgSyDZteVHUy8mAdg3SNzjIBw-_pxxUsYmhVfqA9HVsYEQR3U6zRNHkBMhPyJ3MFs9WYRu0oLLNLYuZzu38C_ATqcj/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiu-nX69Z_w4oUYLFkbcWCKJG8BNEfBmCI2jEiB8oDfaa9xLlCdhCwgep7SkiekyH56gePMUkSsLzxNlEggJl5U2mTyJq_GKEbr6JKeampGI9zY8m2yzKc_WCL0JfR34keTXENQ5sHdUScU/
Phát minh
9:26 AM|

Thiết bị hiện đại này sử dụng các hạt từ trường để hút sạch vi khuẩn và độc tố ra khỏi máu bệnh nhân.
Ngày 18/9, các nhà nghiên cứu Mỹ tuyên bố họ đã phát minh ra một thiết bị từ trường đặc biệt có thể “hút” được các vi khuẩn, virus và độc tố ra khỏi máu của bệnh nhân để giúp họ điều trị Ebola.
Ông Joo Kang, nghiên cứu viên tại Viện nghiên cứu Kỹ thuật Sinh học Wyss thuốc đại học Harvard cho hay: “Chúng tôi tìm cách mô phỏng chức năng và vi cấu trúc của lá lách để có thể liên tục loại bỏ mầm bệnh ra khỏi máu bệnh nhân”.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Thiết bị lọc máu bằng công nghệ sinh học mới được phát minh

Thiết bị từ trường do các nhà nghiên cứu phát mình có thể “hút” các tác nhân gây bệnh, kể cả virus Ebola ra khỏi máu của người bệnh, sau đó đẩy máu sạch trở lại vào cơ thể họ.
Ông Kang và các đồng nghiệp sử dụng một “lá lách sinh học” để thử nghiệm trên chuột bạch bị nhiễm tụ cầu khuẩn và E. Coli, hai loại vi khuẩn gây nhiễm trùng máu nguy hiểm nhất ở người. Kết quả là “lá lách sinh học” của họ đã lọc sạch được 90% vi khuẩn trong máu của những con chuột thí nghiệm, đồng thời tăng khả năng sống sót của chúng.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Một hạt từ trường (màu xanh) giữ chặt vi khuẩn E. Coli

Khi áp dụng trên người, máu của bệnh nhân sẽ được chảy qua một ống lọc với tốc độ 1,25 lít một giờ. Bên trong ống lọc, máu sẽ được trộn với những hạt từ trường rất nhỏ được bọc bằng một loại protein có khả năng giữ lại toàn bộ những mầm bệnh và chất độc.
Sau đó, bên trong những kênh nhỏ của thiết bị, một nam châm sẽ hút toàn bộ các hạt từ trường ra khỏi dòng máu. Những hạt từ trường này khi bị hút lên sẽ mang theo toàn bộ những mầm bệnh và độc tố mà chúng đang giữ lại.
Lúc này, máu nhiễm khuẩn và nhiễm độc sẽ trở thành máu sạch, và được đẩy trở lại cơ thể của bệnh nhân.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Cận cảnh thiết bị lọc máu có thể hút sạch mầm bệnh và độc tố

Loại protein tự nhiên mà các nhà khoa học sử dụng để bọc các hạt từ trường có tên gọi là opsonin. Opsonin là một thành phần trong hệ miễn dịch của người và có khả năng giữ lại đường trên bề mặt tất cả các loại vi khuẩn và nấm.
Để có thể gắn opsonin vào các hạt từ trường, ông Kang và đồng nghiệp đã thay đổi cấu trúc của protein này bằng công nghệ gene.
Công nghệ này hứa hẹn sẽ phát huy hiệu quả rất cao ở những bệnh nhân nhiễm virus Ebola, một loại virus nguy hiểm gây ra hiện tượng nhiễm độc máu nghiêm trọng cho bệnh nhân.
Mỹ phát minh ra thiết bị có khả năng
Virus Ebola nhìn dưới kính hiển vi

Một thành viên nhóm nghiên cứu cho biết: “Loại protein mà chúng tôi sử dụng có khả năng giữ lại virus Ebola trong ống nghiệm, do đó chúng tôi cho rằng nó có thể được sử dụng để điều trị cho các bệnh nhân nhiễm Ebola”.
Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu này sẽ tiếp tục thử nghiệm công nghệ và thiết bị mới này trên các động vật lớn hơn, và sau đó sẽ thử nghiệm chính thức trên người để chứng minh hiệu quả của nó.
Tiêu đề đã được KhoaHoc.com.vn đặt lại.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjBUcoX7K7j3SEEOiasyizHXf9fuo5O_SJnEJXtEMAXjL2r9fi1u8QgSyDZteVHUy8mAdg3SNzjIBw-_pxxUsYmhVfqA9HVsYEQR3U6zRNHkBMhPyJ3MFs9WYRu0oLLNLYuZzu38C_ATqcj/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiu-nX69Z_w4oUYLFkbcWCKJG8BNEfBmCI2jEiB8oDfaa9xLlCdhCwgep7SkiekyH56gePMUkSsLzxNlEggJl5U2mTyJq_GKEbr6JKeampGI9zY8m2yzKc_WCL0JfR34keTXENQ5sHdUScU/

Một hệ thống máy tính chuyên dụng cho phép những người dị tật, rối loạn chức năng phát âm như ALS hoặc Parkinson thường có giá hàng ngàn đô la. Tuy nhiên, một sinh viên 16 tuổi ở Ấn Độ đã tạo ra một thiết bị giá chỉ 80 USD nhưng có thể hoàn thành nhiệm vụ cơ bản của cỗ máy trị giá 7.000 tới 10.000 USD.
Nhà phát minh tuổi teen có tên Arsh Shah Dilbagi gọi phát minh của mình là TALK theo đúng khả năng mà nó có thể thực hiện.
TALK được phát triển từ một mạch Arduino có giá 25 USD cùng vài thành phần khác. Thành phần quan trọng nhất là một microphone MEMS đặt dưới mũi. Microphone cực kỳ nhạy cảm này có một màng nhạy áp được khắc trực tiếp lên một vi mạch. Nhờ đó hệ thống có độ nhạy rất cao, có thể phát hiện sự khác biệt giữa hơi thở ngắn và hơi thở dài, đó là tất cả những gì người dùng cần làm để giao tiếp với thế giới bên ngoài.
Chế tạo máy biến hơi thở thành giọng nói
Vi điều khiển Arduino sẽ dịch những hơi thở ngắn và dài sang những dấu chấm và dấu gạch trong mã Morse, do đó cho phép người dùng đánh vần một từ với vài hơi thở. Sau đó những mã này sẽ được gửi tới một bộ tổng hợp giọng nói để phát ra theo một loạt giọng dựa trên sở thích của người dùng. Dilbagi đã làm việc với một nhà thần kinh học ở New Delhi (Ấn Độ) để thử nghiệm thiết bị trên một bệnh nhân Parkinson, và TALK đã làm việc tốt đúng như mong đợi. Hệ thống này có thể có thể dịch các chấm và gạch ra sang từ một cách đáng tin cậy.
Những thiết bị trợ giúp giao tiếp giống như của Intel chế tạo cho Stephen Hawking có cấu trúc phức tạp hơn. Bàn phím phần mềm mà Hawking sử dụng có thể đoán từ mà ông muốn nói sau khi ông nhập vào một vài ký tự (nhập vào bằng cách ngăn con trỏ đang chuyển động dừng lại đúng lúc) trước khi chương trình có thể hoàn thành từ hoặc cụm từ. Ưu điểm chính của TALK là nó cực kỳ rẻ. Với mức giá chỉ bằng 1% so với giá của những chiếc máy trợ giúp giao tiếp cao cấp, người dùng sẵn sàng chấp nhận học mã Morse để có thể sử dụng TALK.

Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgizLoKBpz-7w9jhODlKLgFG_uUx8oEuFDGUYhL-XYnUmx1WUtD5RWaXIrFyJVmDvGztOg4GAne3tHwjYVFhKLXtdPhSuritNadBa5mmmMHdDkvLOPX3i6JJegybJq17pjP7vSBmiXJ_5FN/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj7JtwtkG7QudV8Tj1CG3AUGp56qMdCrJxc6hUUk_01p1rMVpklv-_sBRbqXLHyukBFRV6F3MQCrW6k81IshKOeJ_YIcSuSnDz1zzWt7AU1G_21pcpwrPnNsV2c8NRzfhH-ymK4ygabBKKb/
Phát minh
9:26 AM|

Một hệ thống máy tính chuyên dụng cho phép những người dị tật, rối loạn chức năng phát âm như ALS hoặc Parkinson thường có giá hàng ngàn đô la. Tuy nhiên, một sinh viên 16 tuổi ở Ấn Độ đã tạo ra một thiết bị giá chỉ 80 USD nhưng có thể hoàn thành nhiệm vụ cơ bản của cỗ máy trị giá 7.000 tới 10.000 USD.
Nhà phát minh tuổi teen có tên Arsh Shah Dilbagi gọi phát minh của mình là TALK theo đúng khả năng mà nó có thể thực hiện.
TALK được phát triển từ một mạch Arduino có giá 25 USD cùng vài thành phần khác. Thành phần quan trọng nhất là một microphone MEMS đặt dưới mũi. Microphone cực kỳ nhạy cảm này có một màng nhạy áp được khắc trực tiếp lên một vi mạch. Nhờ đó hệ thống có độ nhạy rất cao, có thể phát hiện sự khác biệt giữa hơi thở ngắn và hơi thở dài, đó là tất cả những gì người dùng cần làm để giao tiếp với thế giới bên ngoài.
Chế tạo máy biến hơi thở thành giọng nói
Vi điều khiển Arduino sẽ dịch những hơi thở ngắn và dài sang những dấu chấm và dấu gạch trong mã Morse, do đó cho phép người dùng đánh vần một từ với vài hơi thở. Sau đó những mã này sẽ được gửi tới một bộ tổng hợp giọng nói để phát ra theo một loạt giọng dựa trên sở thích của người dùng. Dilbagi đã làm việc với một nhà thần kinh học ở New Delhi (Ấn Độ) để thử nghiệm thiết bị trên một bệnh nhân Parkinson, và TALK đã làm việc tốt đúng như mong đợi. Hệ thống này có thể có thể dịch các chấm và gạch ra sang từ một cách đáng tin cậy.
Những thiết bị trợ giúp giao tiếp giống như của Intel chế tạo cho Stephen Hawking có cấu trúc phức tạp hơn. Bàn phím phần mềm mà Hawking sử dụng có thể đoán từ mà ông muốn nói sau khi ông nhập vào một vài ký tự (nhập vào bằng cách ngăn con trỏ đang chuyển động dừng lại đúng lúc) trước khi chương trình có thể hoàn thành từ hoặc cụm từ. Ưu điểm chính của TALK là nó cực kỳ rẻ. Với mức giá chỉ bằng 1% so với giá của những chiếc máy trợ giúp giao tiếp cao cấp, người dùng sẵn sàng chấp nhận học mã Morse để có thể sử dụng TALK.

Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgizLoKBpz-7w9jhODlKLgFG_uUx8oEuFDGUYhL-XYnUmx1WUtD5RWaXIrFyJVmDvGztOg4GAne3tHwjYVFhKLXtdPhSuritNadBa5mmmMHdDkvLOPX3i6JJegybJq17pjP7vSBmiXJ_5FN/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj7JtwtkG7QudV8Tj1CG3AUGp56qMdCrJxc6hUUk_01p1rMVpklv-_sBRbqXLHyukBFRV6F3MQCrW6k81IshKOeJ_YIcSuSnDz1zzWt7AU1G_21pcpwrPnNsV2c8NRzfhH-ymK4ygabBKKb/

Mỗi ngày chúng ta đều thải ra môi trường một số lượng không nhỏ các loại bao bì thực phẩm như là bao bì mì tôm, giấy gói đồ ăn chế biến sẵn, hộp đựng sữa... Nếu không được làm bằng các vật liệu phân hủy được, những bao bì này sẽ trở thành mối đe dọa lớn tới môi trường.
Để giải quyết vấn đề đó, một công ty Thụy Điển đã phát minh ra một loại bao bì mới có thể phân hủy được, thậm chí còn có thể nấu chín thực phẩm.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Hai nhà thiết kế người Thụy Điển là Hannah Billqvist và Anna Glansén của công ty Tomorrow Machine đã khởi động một dự án vào năm 2012, với cái tên "This Too Shall Pass" (Chuyện đó rồi sẽ qua đi) nhằm nghiên cứu ra một loại bao bì thực phẩm phân hủy được, cùng với khả năng tự nấu chín thực phẩm.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Thức ăn sẽ được nấu trực tiếp bên trong bao bì và nó sẽ tự mở khi đồ ăn đã đạt đến một nhiệt độ nhất định. Bao bì này có thể dễ dàng đem đi phân hủy sau khi sử dụng. Có tên là Sustainable Expanding Bowl, chiếc bát này được tạo thành từ các sợi cellulose và có chứa thức ăn đông lạnh bên trong. Chỉ cần thêm nước sôi vào là đồ ăn bên trong sẽ được nấu chín và khiến cho bao bì tự mở ra thành hình một chiếc bát.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Tomorrow Machine cũng đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển một loại bao bì mới khác, được làm từ nguyên vật liệu tự nhiên có thể dễ dàng phân hủy hoặc hòa tan vào nước.
Chiếc hộp đựng nước uống trong ảnh dưới được làm từ một hỗn hợp của agar (một chất keo được tạo ra bằng cách đun sôi một polysaccharide trong tảo đỏ) và nước. Khi đồ uống bên trong đã được hút hết, chiếc hộp sẽ bắt đầu co rút lại. Nó gần như biến mất hoàn toàn sau chỉ một tháng.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Ngoài ra còn có một loại bao bì dành cho đồ khô như gạo hoặc mì được tạo thành từ sáp ong đã qua xử lý. Lớp sáp này mỏng như tờ giấy và có thể bóc ra giống như vỏ cam vậy.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Bên cạnh đó, Tomorrow Machine còn phát triển một hộp đựng chất lỏng (nước chấm chẳng hạn) thân thiện với môi trường. Chiếc hộp làm bằng đường caramel này được phủ một lớp sáp ong và có thể được mở bằng cách đập vỡ như trứng gà vậy. Chỉ mất vài phút để lớp đường hòa tan vào nước, nghĩa là việc xử lý rác từ nay sẽ rất dễ dàng.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Tuy nhiên, rất nhiều người có thể sẽ không thích việc phải gạn mảnh vỡ của hộp ra khỏi bát nước chấm của mình để tránh làm ảnh hưởng đến hương vị. Dù sao thì ở thời điểm này, các loại bao bì vẫn chỉ là nguyên mẫu và hoàn toàn có thể thay đổi để sớm đưa ra thị trường.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhfmmuoGjma9HO7hIDGeEyJysKniGm9B_3dvJ_2dENG5tZMZRU_Omb1-tp-seqEqggo05hwgtzWjeP7aWItTqKi80Mrd0e5ccT_S_7fSqW20HjgUsc3OV3gHHMdnnsQHU_Phks4Fvx5n2Hy/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgddO-jhTa25ywhVlcXWdvBABq7Rqf8fBI1q10rRyIbRariyUY-H6WJNEimB7viau73v4KkdSZgaKkmRrEoGlVARFS0DP2ver9FpRKOwa-NfEApmKKU_VnpLqzNd9fiHxEaJUbJ2_t4UE_K/
Phát minh
9:25 AM|

Mỗi ngày chúng ta đều thải ra môi trường một số lượng không nhỏ các loại bao bì thực phẩm như là bao bì mì tôm, giấy gói đồ ăn chế biến sẵn, hộp đựng sữa... Nếu không được làm bằng các vật liệu phân hủy được, những bao bì này sẽ trở thành mối đe dọa lớn tới môi trường.
Để giải quyết vấn đề đó, một công ty Thụy Điển đã phát minh ra một loại bao bì mới có thể phân hủy được, thậm chí còn có thể nấu chín thực phẩm.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Hai nhà thiết kế người Thụy Điển là Hannah Billqvist và Anna Glansén của công ty Tomorrow Machine đã khởi động một dự án vào năm 2012, với cái tên "This Too Shall Pass" (Chuyện đó rồi sẽ qua đi) nhằm nghiên cứu ra một loại bao bì thực phẩm phân hủy được, cùng với khả năng tự nấu chín thực phẩm.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Thức ăn sẽ được nấu trực tiếp bên trong bao bì và nó sẽ tự mở khi đồ ăn đã đạt đến một nhiệt độ nhất định. Bao bì này có thể dễ dàng đem đi phân hủy sau khi sử dụng. Có tên là Sustainable Expanding Bowl, chiếc bát này được tạo thành từ các sợi cellulose và có chứa thức ăn đông lạnh bên trong. Chỉ cần thêm nước sôi vào là đồ ăn bên trong sẽ được nấu chín và khiến cho bao bì tự mở ra thành hình một chiếc bát.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Tomorrow Machine cũng đang trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển một loại bao bì mới khác, được làm từ nguyên vật liệu tự nhiên có thể dễ dàng phân hủy hoặc hòa tan vào nước.
Chiếc hộp đựng nước uống trong ảnh dưới được làm từ một hỗn hợp của agar (một chất keo được tạo ra bằng cách đun sôi một polysaccharide trong tảo đỏ) và nước. Khi đồ uống bên trong đã được hút hết, chiếc hộp sẽ bắt đầu co rút lại. Nó gần như biến mất hoàn toàn sau chỉ một tháng.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Ngoài ra còn có một loại bao bì dành cho đồ khô như gạo hoặc mì được tạo thành từ sáp ong đã qua xử lý. Lớp sáp này mỏng như tờ giấy và có thể bóc ra giống như vỏ cam vậy.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Bên cạnh đó, Tomorrow Machine còn phát triển một hộp đựng chất lỏng (nước chấm chẳng hạn) thân thiện với môi trường. Chiếc hộp làm bằng đường caramel này được phủ một lớp sáp ong và có thể được mở bằng cách đập vỡ như trứng gà vậy. Chỉ mất vài phút để lớp đường hòa tan vào nước, nghĩa là việc xử lý rác từ nay sẽ rất dễ dàng.
Giới thiệu túi đựng thực phẩm có thể tự hủy và tự nấu
Tuy nhiên, rất nhiều người có thể sẽ không thích việc phải gạn mảnh vỡ của hộp ra khỏi bát nước chấm của mình để tránh làm ảnh hưởng đến hương vị. Dù sao thì ở thời điểm này, các loại bao bì vẫn chỉ là nguyên mẫu và hoàn toàn có thể thay đổi để sớm đưa ra thị trường.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhfmmuoGjma9HO7hIDGeEyJysKniGm9B_3dvJ_2dENG5tZMZRU_Omb1-tp-seqEqggo05hwgtzWjeP7aWItTqKi80Mrd0e5ccT_S_7fSqW20HjgUsc3OV3gHHMdnnsQHU_Phks4Fvx5n2Hy/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgddO-jhTa25ywhVlcXWdvBABq7Rqf8fBI1q10rRyIbRariyUY-H6WJNEimB7viau73v4KkdSZgaKkmRrEoGlVARFS0DP2ver9FpRKOwa-NfEApmKKU_VnpLqzNd9fiHxEaJUbJ2_t4UE_K/

Ngày 18/9/1783, nhà toán học, nhà vật lý học Leonhard Euler - người có một sức mạnh trí tuệ và tinh thần kỳ diệu, đã rời bỏ khoa học để đi về thế giới bên kia. Song những gì ông để lại vẫn luôn được hậu thế nâng niu và trân trọng không chỉ vì giá trị thực tế của nó mà còn bởi giá trị tinh thần to lớn ẩn chứa bên trong.
Ngay từ nhỏ Euler là một cậu bé có tài năng đặc biệt về ngôn ngữ và một trí nhớ phi thường. Song cuộc đời ông đã trải qua nhiều biến động và bất hạnh: hai mắt lần lượt hỏng, nhà cháy thiêu rụi mọi tài sản, người vợ thân yêu qua đời...
Nhưng tất cả những điều đó không hề ảnh hưởng tới sức sáng tạo, đến khả năng làm việc của ông. Càng về già, Euler càng làm việc không biết mệt mỏi. Chỉ tính riêng trong 17 năm cuối đời, Euler đã công bố tới 416 công trình. Tính ra trung bình mỗi năm ông công bố tới 25 công trình, nhiều gấp 3 lần số công trình mỗi năm trước đó ông đã công bố.
Leonhard Euler - Sức mạnh trí tuệ kỳ diệu
Leonhard Euler sinh ngày 15/4/1707 tại Basel, Thụy Sĩ.

Sau khi ông qua đời, các công trình nghiên cứu của ông đã được tập hợp trong bộ sách “Leonhard Euler Opera Omnia”, gồm 85 quyển cỡ lớn với gần 40.000 trang, trong đó đề cập đến hầu hết các lĩnh vực của toán học và nhiều ngành khoa học kỹ thuật khác.

Đóng góp quan trọng cho Toán học

Đối với Euler, làm toán cũng tự nhiên và cần thiết cho đời sống như là hít thở khí trời vậy. Ông đã bị ám ảnh bởi sự biến đổi kỳ diệu của những phép tính cho đến tận khi ông qua đời. Leonhard Euler nghiên cứu hầu hết các lĩnh vực của Toán học thời bấy giờ như: đại số, lý thuyết số, giải tích, hình học… Các công trình về toán học chiếm tới 58% tổng các công trình nghiên cứu của ông.
Một trong những thành công ban đầu của Euler đã là tìm ra lời giải cho bài toán Basel, yêu cầu tìm giá trị chính xác của tổng các bình phương nghịch đảo của các các số nguyên. Trước đó, các nhà toán học tốn rất nhiều công sức mà không tìm ra được kết quả bài toán. Đến năm 1735, khi Euler sử dụng kỹ thuật tính xấp xỉ mới tìm ra kết quả chính xác của bài toán là pi^2/16.
Leonhard Euler - Sức mạnh trí tuệ kỳ diệu
Bản đồ Königsberg thời Euler, mô tả vị trí thực của 7 cây cầu và sông Pregel.

Năm 1736, Euler tiếp tục giải được bài toán nổi tiếng 7 chiếc cầu Königsberg. Khi đó, thành phố Königsberg gồm hai hòn đảo nối với nhau và với đất liền bởi 7 cây cầu. Bài toán đặt ra là tìm một tuyến đường đi qua mỗi cây cầu chỉ đúng 1 lần. Bằng lý thuyết đồ thị, Euler đã chứng minh rằng điều đó không thể thực hiện. Lời giải của ông cho bài toán này được coi là định lý đầu tiên của lý thuyết đồ thị và là đánh dấu sự phát triển của ngành tôpô học.
Không dừng lại ở thành công đó, Euler tiếp tục nghiên cứu và công bố nhiều công trình toán học quan trọng khác như: chuyển động cơ học được giải thích bởi ngành giải tích, đường thẳng Euler, đường tròn Euler trong tam giác, định lý Euler về liên hệ giữa số đỉnh, cạnh và mặt trong của một đa diện lồi, nhập môn về tính vi tích, nguyên lý vi phân học, nguyên lý tích phân học, dẫn luận phân tích vô cùng nhỏ, … Ngoài ra, Euler còn phát minh ra một chuỗi các phương pháp tính xấp xỉ, được sử dụng nhiều trong tính toán.
Ông cũng là người đưa ra nhiều kí hiệu toán học mà ngày nay chúng ta vẫn đang sử dụng như: số "pi" để biểu diễn tỉ lệ giữa chu vi đường tròn và đường kính của nó, sin, cos, tg, cotg, Δx (số gia), Σ (tổng), f(x) (hàm f của x), v.v...

Đóng góp cho vật lý và các ngành khoa học kỹ thuật

Euler có nhiều đóng góp cho cơ học, vật lý. Ông đặc biệt nghiên cứu các định luật chuyển động của Issac Newton. Quá trình nghiên cứu này đã giúp ông giải thích các định luật vật lý học Newton dưới dạng toán giải tích, đồng thời giúp ông phát hiện ra nhiều lý thuyết vật lý khác. Ví dụ khi Euler chứng minh được qui luật vận động của các chất lỏng mà Issac Newton đã đưa ra, Leonhard Euler đã phát triển được lý thuyết về sự cân bằng thủy lực.
Tương tự như thế, thông qua việc phân tích sự vận động của thể rắn và áp dụng các định luật của Newton, Euler đã giải thích được một cách cặn kẽ về quá trình biến dạng của các vật thể rắn khi có sự tác động của các lực bên ngoài, từ đó góp phần hình thành lý thuyết đàn hồi. Năm 1936, các công trình nghiên cứu này của ông đã được tập hợp trong luận văn “Lực học”.
Leonhard Euler - Sức mạnh trí tuệ kỳ diệu
Chân dung Leonhard Euler trên một con tem của Thụy Sĩ.

Ngoài vật lý, Euler cũng nghiên cứu về thiên văn học, lý thuyết đường đạn, bản đồ, xây dựng, lý thuyết âm nhạc, thần học và triết học,… Trong những năm tháng mù lòa, ông đã viết một luận án dài 775 trang về chuyển động của mặt trăng. Ông cũng nghiên cứu về quỹ đạo của sao Thiên Vương, nhờ đó các nhà thiên văn học tìm ra sao Hải Vương sau này.
Với những đóng góp cho khoa học, Euler được phong làm viện sỹ của 8 viện hàn lâm trên thế giới, trong đó có Anh, Pháp, Nga, Đức,…Ông cũng được coi là nhà toán học quan trọng nhất của thế kỷ XVIII.
Đánh giá về những công trình khoa học của Euler, nhà triết học duy vật nổi tiếng người Pháp Diderot đã viết: “Ông sẵn sàng đánh đổi tất cả những điều ông đã xây dựng được để lấy một trang trong những tác phẩm của ngài Euler".
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhO3Ye5ZB4GP4n8ZqZVzXraZb_RSboibEuRKfdNvzLooNKWmawpLhDlhLVyo7EVjB8FG9WNy-7esQyio7K1ayA8yCDyqyA-SKXcUcWIKrTDIw4sb4zuwTCSHcd7-s761Pne85qXlyg6ShkZ/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEinlBr5T_HCKpdHaeFjknniAC1jybRRoerARsR7IhFVIgMgkckMMy8kP19HX3kq9M1a-Rtpyq2HWFK83nHWYFoWwesFxSp9jaa0rtLdoNpRh0Qq02YODCN79pI83DAZAsvBb0WpC9SC3g9o/
Quanh ta
1:17 PM|

Ngày 18/9/1783, nhà toán học, nhà vật lý học Leonhard Euler - người có một sức mạnh trí tuệ và tinh thần kỳ diệu, đã rời bỏ khoa học để đi về thế giới bên kia. Song những gì ông để lại vẫn luôn được hậu thế nâng niu và trân trọng không chỉ vì giá trị thực tế của nó mà còn bởi giá trị tinh thần to lớn ẩn chứa bên trong.
Ngay từ nhỏ Euler là một cậu bé có tài năng đặc biệt về ngôn ngữ và một trí nhớ phi thường. Song cuộc đời ông đã trải qua nhiều biến động và bất hạnh: hai mắt lần lượt hỏng, nhà cháy thiêu rụi mọi tài sản, người vợ thân yêu qua đời...
Nhưng tất cả những điều đó không hề ảnh hưởng tới sức sáng tạo, đến khả năng làm việc của ông. Càng về già, Euler càng làm việc không biết mệt mỏi. Chỉ tính riêng trong 17 năm cuối đời, Euler đã công bố tới 416 công trình. Tính ra trung bình mỗi năm ông công bố tới 25 công trình, nhiều gấp 3 lần số công trình mỗi năm trước đó ông đã công bố.
Leonhard Euler - Sức mạnh trí tuệ kỳ diệu
Leonhard Euler sinh ngày 15/4/1707 tại Basel, Thụy Sĩ.

Sau khi ông qua đời, các công trình nghiên cứu của ông đã được tập hợp trong bộ sách “Leonhard Euler Opera Omnia”, gồm 85 quyển cỡ lớn với gần 40.000 trang, trong đó đề cập đến hầu hết các lĩnh vực của toán học và nhiều ngành khoa học kỹ thuật khác.

Đóng góp quan trọng cho Toán học

Đối với Euler, làm toán cũng tự nhiên và cần thiết cho đời sống như là hít thở khí trời vậy. Ông đã bị ám ảnh bởi sự biến đổi kỳ diệu của những phép tính cho đến tận khi ông qua đời. Leonhard Euler nghiên cứu hầu hết các lĩnh vực của Toán học thời bấy giờ như: đại số, lý thuyết số, giải tích, hình học… Các công trình về toán học chiếm tới 58% tổng các công trình nghiên cứu của ông.
Một trong những thành công ban đầu của Euler đã là tìm ra lời giải cho bài toán Basel, yêu cầu tìm giá trị chính xác của tổng các bình phương nghịch đảo của các các số nguyên. Trước đó, các nhà toán học tốn rất nhiều công sức mà không tìm ra được kết quả bài toán. Đến năm 1735, khi Euler sử dụng kỹ thuật tính xấp xỉ mới tìm ra kết quả chính xác của bài toán là pi^2/16.
Leonhard Euler - Sức mạnh trí tuệ kỳ diệu
Bản đồ Königsberg thời Euler, mô tả vị trí thực của 7 cây cầu và sông Pregel.

Năm 1736, Euler tiếp tục giải được bài toán nổi tiếng 7 chiếc cầu Königsberg. Khi đó, thành phố Königsberg gồm hai hòn đảo nối với nhau và với đất liền bởi 7 cây cầu. Bài toán đặt ra là tìm một tuyến đường đi qua mỗi cây cầu chỉ đúng 1 lần. Bằng lý thuyết đồ thị, Euler đã chứng minh rằng điều đó không thể thực hiện. Lời giải của ông cho bài toán này được coi là định lý đầu tiên của lý thuyết đồ thị và là đánh dấu sự phát triển của ngành tôpô học.
Không dừng lại ở thành công đó, Euler tiếp tục nghiên cứu và công bố nhiều công trình toán học quan trọng khác như: chuyển động cơ học được giải thích bởi ngành giải tích, đường thẳng Euler, đường tròn Euler trong tam giác, định lý Euler về liên hệ giữa số đỉnh, cạnh và mặt trong của một đa diện lồi, nhập môn về tính vi tích, nguyên lý vi phân học, nguyên lý tích phân học, dẫn luận phân tích vô cùng nhỏ, … Ngoài ra, Euler còn phát minh ra một chuỗi các phương pháp tính xấp xỉ, được sử dụng nhiều trong tính toán.
Ông cũng là người đưa ra nhiều kí hiệu toán học mà ngày nay chúng ta vẫn đang sử dụng như: số "pi" để biểu diễn tỉ lệ giữa chu vi đường tròn và đường kính của nó, sin, cos, tg, cotg, Δx (số gia), Σ (tổng), f(x) (hàm f của x), v.v...

Đóng góp cho vật lý và các ngành khoa học kỹ thuật

Euler có nhiều đóng góp cho cơ học, vật lý. Ông đặc biệt nghiên cứu các định luật chuyển động của Issac Newton. Quá trình nghiên cứu này đã giúp ông giải thích các định luật vật lý học Newton dưới dạng toán giải tích, đồng thời giúp ông phát hiện ra nhiều lý thuyết vật lý khác. Ví dụ khi Euler chứng minh được qui luật vận động của các chất lỏng mà Issac Newton đã đưa ra, Leonhard Euler đã phát triển được lý thuyết về sự cân bằng thủy lực.
Tương tự như thế, thông qua việc phân tích sự vận động của thể rắn và áp dụng các định luật của Newton, Euler đã giải thích được một cách cặn kẽ về quá trình biến dạng của các vật thể rắn khi có sự tác động của các lực bên ngoài, từ đó góp phần hình thành lý thuyết đàn hồi. Năm 1936, các công trình nghiên cứu này của ông đã được tập hợp trong luận văn “Lực học”.
Leonhard Euler - Sức mạnh trí tuệ kỳ diệu
Chân dung Leonhard Euler trên một con tem của Thụy Sĩ.

Ngoài vật lý, Euler cũng nghiên cứu về thiên văn học, lý thuyết đường đạn, bản đồ, xây dựng, lý thuyết âm nhạc, thần học và triết học,… Trong những năm tháng mù lòa, ông đã viết một luận án dài 775 trang về chuyển động của mặt trăng. Ông cũng nghiên cứu về quỹ đạo của sao Thiên Vương, nhờ đó các nhà thiên văn học tìm ra sao Hải Vương sau này.
Với những đóng góp cho khoa học, Euler được phong làm viện sỹ của 8 viện hàn lâm trên thế giới, trong đó có Anh, Pháp, Nga, Đức,…Ông cũng được coi là nhà toán học quan trọng nhất của thế kỷ XVIII.
Đánh giá về những công trình khoa học của Euler, nhà triết học duy vật nổi tiếng người Pháp Diderot đã viết: “Ông sẵn sàng đánh đổi tất cả những điều ông đã xây dựng được để lấy một trang trong những tác phẩm của ngài Euler".
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhO3Ye5ZB4GP4n8ZqZVzXraZb_RSboibEuRKfdNvzLooNKWmawpLhDlhLVyo7EVjB8FG9WNy-7esQyio7K1ayA8yCDyqyA-SKXcUcWIKrTDIw4sb4zuwTCSHcd7-s761Pne85qXlyg6ShkZ/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEinlBr5T_HCKpdHaeFjknniAC1jybRRoerARsR7IhFVIgMgkckMMy8kP19HX3kq9M1a-Rtpyq2HWFK83nHWYFoWwesFxSp9jaa0rtLdoNpRh0Qq02YODCN79pI83DAZAsvBb0WpC9SC3g9o/

Ivan Pavlov, người được mệnh danh là “nhà sinh lý học bậc nhất của thế giới” đã chào đời cách đây 165 năm, ngày 14/9/1849, ở Ryazan (Nga). Ông là người đã sáng tạo ra học thuyết duy vật về hoạt động thần kinh cấp cao và được nhận giải thưởng Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1904 cho sáng tạo này.
Lấy cảm hứng từ những ý tưởng tiến bộ của DJ Pisarev (nhà phê bình văn học Nga nổi tiếng), sau khi đọc cuốn “Nguồn gốc của các loài” của Charles Darwin và các tác phẩm của IM Sechnov (cha đẻ của sinh lý học Nga), chàng trai Ivan Petrovich Pavlov đã từ bỏ sự nghiệp tôn giáo để cống hiến cuộc đời mình cho khoa học. Và vì thế sau này, thế giới mới có một nhà sinh lý học kiệt xuất.
Pavlov được sinh ra trong một gia đình linh mục đông con. Ngay từ khi còn nhỏ, Pavlov đã là một đứa trẻ có óc tưởng tượng, giỏi quan sát, có nghị lực, bền bỉ và kiên nhẫn trong mọi việc. Những đức tính này đã giúp Pavlov rất nhiều cho những thí nghiệm thành công sau này.
Người tìm ra định luật phản xạ có điều kiện
Nhà sinh lý học Ivan Pavlov

Cũng giống như hầu hết trẻ em khác của Ryazan, Pavlov bắt đầu quá trình học tập tại trường của nhà thờ ở Ryazan và sau đó ghi danh tại một chủng viện thần học. Pavlov rất ham đọc sách. 13 tuổi, Pavlov đã đọc rất nhiều tác phẩm nổi tiếng. Về sau Pavlov dần dần có hứng thú với sách khoa học về sinh lý.
Năm 1870, Pavlov quyết định từ bỏ việc nghiên cứu thần học và đăng ký vào học tại Đại học Saint Petersburg để nghiên cứu các ngành khoa học tự nhiên và trở thành một nhà sinh vật học. Năm 1875, Pavlov hoàn thành khóa học của mình một cách xuất sắc và đến năm 1879, ông nhận được học vị tiến sĩ.
Vào thập niên 1890, Pavlov làm việc tại Viện y học thực nghiệm. Dưới sự chỉ đạo của ông, Viện đã trở thành một trong những trung tâm quan trọng nhất về nghiên cứu sinh lý. Cũng tại đây, Pavlov đã thực hiện phần lớn các nghiên cứu của ông về sinh lý tiêu hóa. Với những nghiên cứu này, Pavlov đã mở đường cho những tiến bộ mới trong y học lý thuyết và thực tiễn; đồng thời, cho thấy rằng hệ thống thần kinh góp phần điều chỉnh quá trình tiêu hóa.
Một trong những nghiên cứu thú vị và có ý nghĩa lịch sử của ông là về vấn đề tiết dịch vị. Chúng ta đều biết, khi ăn, dạ dày sẽ tiết ra một lượng lớn dịch vị để giúp tiêu hóa thức ăn. Với quyết tâm muốn biết đại não truyền mệnh lệnh cho dạ dày như thế nào, Pavlov tiến hành thí nghiệm đối với con chó đã sống ở phòng thí nghiệm nhiều năm, đã quen với tất cả nhân viên ở đây.
Ông nhận thấy dịch vị của chó tăng lên rất nhiều khi chúng nghe thấy tiếng bước chân của nhân viên thường mang thức ăn đến cho chúng. Ông nghĩ tiếng bước chân cho chú chó biết thức ăn đang được mang tới, thông qua thần kinh đại não ra mệnh lệnh làm cho dạ dày tiết ra dịch vị. Từ phát hiện này, Pavlov nghĩ rằng, bất kỳ một tín hiệu nào như tiếng chuông, tiếng huýt sáo... gắn liền với sự xuất hiện của thức ăn trong một thời gian dài liên tục thì sẽ cho ra kết quả tương tự. Ông lặp lại thí nghiệm này trong nhiều lần. Nhưng thí nghiệm này chỉ có tác dụng với những chú chó đã ở lâu trong phòng thí nghiệm. Còn với những chú chó mới được nuôi thì không được. Pavlov cho rằng đây là loại phản ứng đối với sự kích thích từ bên ngoài. Ông gọi đó là “phản xạ có điều kiện”.
Người tìm ra định luật phản xạ có điều kiện
Ông Pavlov đã tìm ra định luật "phản xạ có điều kiện" nhờ nghiên cứu chức năng hoạt động dạ dày của những chú chó.

Sau này, Pavlov còn đi sâu nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến hoạt động của thần kinh như: Công trình về sự tuần hoàn và tác động dinh dưỡng của hệ thống thần kinh; Các thực nghiệm về cơ chế thích ứng của các mạch máu; Công trình về hoạt động của các tuyến tiêu hóa; Về sinh lý của hoạt động của thần kinh cao cấp - bán cầu đại não; Học thuyết về các loại hình thần kinh của động vật và con người; Về vấn đề giấc ngủ và thôi miên; Về sinh lý học và tâm lý học trong nghiên cứu hoạt động hoạt động thần kinh cao cấp của động vật; Về bệnh lý học thực nghiệm của hoạt động thần kinh cao cấp.
Các nghiên cứu của Pavlov đã mở ra một kỷ nguyên mới về cách nhìn nhận hoạt động của hệ thần kinh cao cấp, đánh bại chủ nghĩa duy tâm, duy ý chí, đặt nền tảng cho sự phát triển y học, thú y và huấn luyện tạo thói quen cho động vật phục vụ ý muốn của con người.
Bằng hàng loạt các công trình vĩ đại của mình, Ivan Pavlov đã được trao Giải thưởng Nobel về sinh lý và y khoa năm 1904. Ngoài Giải Nobel, Ivan Pavlov còn được bầu làm Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga vào năm 1907; tiến sĩ danh dự tại Đại học Cambridge vào năm 1912 và được trao tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh vào năm 1915.
Có thể nói, cả cuộc đời mình, Pavlov đã dành cho khoa học, ông nói rằng “khoa học yêu cầu ở mỗi người phải có tinh thần làm việc hết sức khẩn trương và sự nhiệt tình to lớn”. Ông qua đời vào ngày 27/2/1936 tại Leningrad (nay là Saint Petersburg). Cho đến tận ngày nay, Pavlop vẫn được nhắc tới như một nhà khoa học vĩ đại, một công dân mẫu mực của nước Nga.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEifoZRW6lRWavqgP3QyPTjeYkHFnY7vYyzA3ifPrGFO-9Ki95gmlY25gMIOWNhRkuQ18wZ4ogAqyzGC_M1K-a3nTdunNWDe9DQpEOsfZXQN9cRbEiJDfSJro6_TJpMJqx5s4W4qfTfusWxj/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgNsham-vmGCH1C53cVUjI6xdh6LYP0MqDQT-kBnecGlZthZ5woKkn1ARduWVSdsommkLz9KWlGMOM_hM79qKnB7nGMdlTei8xP78DXFQAM9c7oAd8uXFc5x6DQWjBb1UXgQbiFdJ6y5AHV/
Quanh ta
1:16 PM|

Ivan Pavlov, người được mệnh danh là “nhà sinh lý học bậc nhất của thế giới” đã chào đời cách đây 165 năm, ngày 14/9/1849, ở Ryazan (Nga). Ông là người đã sáng tạo ra học thuyết duy vật về hoạt động thần kinh cấp cao và được nhận giải thưởng Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1904 cho sáng tạo này.
Lấy cảm hứng từ những ý tưởng tiến bộ của DJ Pisarev (nhà phê bình văn học Nga nổi tiếng), sau khi đọc cuốn “Nguồn gốc của các loài” của Charles Darwin và các tác phẩm của IM Sechnov (cha đẻ của sinh lý học Nga), chàng trai Ivan Petrovich Pavlov đã từ bỏ sự nghiệp tôn giáo để cống hiến cuộc đời mình cho khoa học. Và vì thế sau này, thế giới mới có một nhà sinh lý học kiệt xuất.
Pavlov được sinh ra trong một gia đình linh mục đông con. Ngay từ khi còn nhỏ, Pavlov đã là một đứa trẻ có óc tưởng tượng, giỏi quan sát, có nghị lực, bền bỉ và kiên nhẫn trong mọi việc. Những đức tính này đã giúp Pavlov rất nhiều cho những thí nghiệm thành công sau này.
Người tìm ra định luật phản xạ có điều kiện
Nhà sinh lý học Ivan Pavlov

Cũng giống như hầu hết trẻ em khác của Ryazan, Pavlov bắt đầu quá trình học tập tại trường của nhà thờ ở Ryazan và sau đó ghi danh tại một chủng viện thần học. Pavlov rất ham đọc sách. 13 tuổi, Pavlov đã đọc rất nhiều tác phẩm nổi tiếng. Về sau Pavlov dần dần có hứng thú với sách khoa học về sinh lý.
Năm 1870, Pavlov quyết định từ bỏ việc nghiên cứu thần học và đăng ký vào học tại Đại học Saint Petersburg để nghiên cứu các ngành khoa học tự nhiên và trở thành một nhà sinh vật học. Năm 1875, Pavlov hoàn thành khóa học của mình một cách xuất sắc và đến năm 1879, ông nhận được học vị tiến sĩ.
Vào thập niên 1890, Pavlov làm việc tại Viện y học thực nghiệm. Dưới sự chỉ đạo của ông, Viện đã trở thành một trong những trung tâm quan trọng nhất về nghiên cứu sinh lý. Cũng tại đây, Pavlov đã thực hiện phần lớn các nghiên cứu của ông về sinh lý tiêu hóa. Với những nghiên cứu này, Pavlov đã mở đường cho những tiến bộ mới trong y học lý thuyết và thực tiễn; đồng thời, cho thấy rằng hệ thống thần kinh góp phần điều chỉnh quá trình tiêu hóa.
Một trong những nghiên cứu thú vị và có ý nghĩa lịch sử của ông là về vấn đề tiết dịch vị. Chúng ta đều biết, khi ăn, dạ dày sẽ tiết ra một lượng lớn dịch vị để giúp tiêu hóa thức ăn. Với quyết tâm muốn biết đại não truyền mệnh lệnh cho dạ dày như thế nào, Pavlov tiến hành thí nghiệm đối với con chó đã sống ở phòng thí nghiệm nhiều năm, đã quen với tất cả nhân viên ở đây.
Ông nhận thấy dịch vị của chó tăng lên rất nhiều khi chúng nghe thấy tiếng bước chân của nhân viên thường mang thức ăn đến cho chúng. Ông nghĩ tiếng bước chân cho chú chó biết thức ăn đang được mang tới, thông qua thần kinh đại não ra mệnh lệnh làm cho dạ dày tiết ra dịch vị. Từ phát hiện này, Pavlov nghĩ rằng, bất kỳ một tín hiệu nào như tiếng chuông, tiếng huýt sáo... gắn liền với sự xuất hiện của thức ăn trong một thời gian dài liên tục thì sẽ cho ra kết quả tương tự. Ông lặp lại thí nghiệm này trong nhiều lần. Nhưng thí nghiệm này chỉ có tác dụng với những chú chó đã ở lâu trong phòng thí nghiệm. Còn với những chú chó mới được nuôi thì không được. Pavlov cho rằng đây là loại phản ứng đối với sự kích thích từ bên ngoài. Ông gọi đó là “phản xạ có điều kiện”.
Người tìm ra định luật phản xạ có điều kiện
Ông Pavlov đã tìm ra định luật "phản xạ có điều kiện" nhờ nghiên cứu chức năng hoạt động dạ dày của những chú chó.

Sau này, Pavlov còn đi sâu nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến hoạt động của thần kinh như: Công trình về sự tuần hoàn và tác động dinh dưỡng của hệ thống thần kinh; Các thực nghiệm về cơ chế thích ứng của các mạch máu; Công trình về hoạt động của các tuyến tiêu hóa; Về sinh lý của hoạt động của thần kinh cao cấp - bán cầu đại não; Học thuyết về các loại hình thần kinh của động vật và con người; Về vấn đề giấc ngủ và thôi miên; Về sinh lý học và tâm lý học trong nghiên cứu hoạt động hoạt động thần kinh cao cấp của động vật; Về bệnh lý học thực nghiệm của hoạt động thần kinh cao cấp.
Các nghiên cứu của Pavlov đã mở ra một kỷ nguyên mới về cách nhìn nhận hoạt động của hệ thần kinh cao cấp, đánh bại chủ nghĩa duy tâm, duy ý chí, đặt nền tảng cho sự phát triển y học, thú y và huấn luyện tạo thói quen cho động vật phục vụ ý muốn của con người.
Bằng hàng loạt các công trình vĩ đại của mình, Ivan Pavlov đã được trao Giải thưởng Nobel về sinh lý và y khoa năm 1904. Ngoài Giải Nobel, Ivan Pavlov còn được bầu làm Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga vào năm 1907; tiến sĩ danh dự tại Đại học Cambridge vào năm 1912 và được trao tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh vào năm 1915.
Có thể nói, cả cuộc đời mình, Pavlov đã dành cho khoa học, ông nói rằng “khoa học yêu cầu ở mỗi người phải có tinh thần làm việc hết sức khẩn trương và sự nhiệt tình to lớn”. Ông qua đời vào ngày 27/2/1936 tại Leningrad (nay là Saint Petersburg). Cho đến tận ngày nay, Pavlop vẫn được nhắc tới như một nhà khoa học vĩ đại, một công dân mẫu mực của nước Nga.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEifoZRW6lRWavqgP3QyPTjeYkHFnY7vYyzA3ifPrGFO-9Ki95gmlY25gMIOWNhRkuQ18wZ4ogAqyzGC_M1K-a3nTdunNWDe9DQpEOsfZXQN9cRbEiJDfSJro6_TJpMJqx5s4W4qfTfusWxj/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgNsham-vmGCH1C53cVUjI6xdh6LYP0MqDQT-kBnecGlZthZ5woKkn1ARduWVSdsommkLz9KWlGMOM_hM79qKnB7nGMdlTei8xP78DXFQAM9c7oAd8uXFc5x6DQWjBb1UXgQbiFdJ6y5AHV/

Từ những người bạn thân thiết và có chung niềm đam mê, Mileva Maric kết hôn và trở thành vợ đầu tiên của nhà vật lý nổi tiếng Albert Einstein. Cô em họ Elsa Lowenthal trở thành người bạn đời thứ hai của ông, đóng vai trò cộng sự và đồng hành đáng tin cậy.
Mileva Einstein-Maric sinh năm 1875 tại thị trấn Titel, Serbia, xuất thân trong một gia đình giàu có. Thời niên thiếu, vì có thành tích học tập tốt nên bà được phép theo học tại một ngôi trường chỉ có nam sinh ở Zagreb. Maric được mô tả là một học sinh xuất sắc ở các môn toán và vật lý. Năm 1896, Maric bắt đầu theo học tại Đại học Zurich, Thụy Sĩ trong một thời gian ngắn rồi chuyển sang Đại học Bách khoa Zurich (tiền thân của Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ hay ETH ngày nay). Trong số bạn bè ở trường đại học của Maric có Albert Einstein.
Trong thời gian học đại học, Maric từng có một kỳ học tập tại Heidelberg, Đức. Đây cũng là khoảng thời gian Maric bắt đầu trao đổi thư từ với Einstein, người từng đặt cho bà biệt danh "Dollie" và giục bà sớm quay trở về. Tình bạn đơn thuần bước sang một giai đoạn mới, sau khi Maric quay lại Thụy Sĩ.
Trong khi gia đình Maric ủng hộ mối quan hệ của hai người, thì cha mẹ của Einstein lại kiên quyết phản đối. Họ không ủng hộ việc Maric nhiều hơn Einstein 4 tuổi, đồng thời lại là người theo tôn giáo và đến từ một nền văn hóa khác.
Hai người phụ nữ trong cuộc đời Albert Einstein
Mileva Maric và Albert Einstein. (Ảnh: Wikipedia)

Tình yêu của Einstein và Maric tiếp tục nảy nở những ngày tháng sau đó. Tuy nhiên đây lại là thời điểm Maric gặp phải nhiều khó khăn trong học tập và nghiên cứu. Năm 1900, khi Einstein tốt nghiệp và bắt đầu tìm việc thì Maric thất bại trong kỳ thi cuối cùng, buộc phải làm việc cho một phòng thí nghiệm và chuẩn bị thi lại. Thế nhưng một lần nữa, những nỗ lực của bà lại không thành công. Trong khoảng thời gian này, bà phát hiện mình mang thai đứa con với Einstein.
Đầu năm 1902, Maric sinh con gái đầu lòng tại nhà bố mẹ đẻ ở Serbia. Tuy nhiên, cô con gái Lieserl không có thân phận rõ ràng. Về cơ bản, các hồ sơ liên quan đến Lieserl biến mất sau khi sinh. Nhiều câu chuyện kể lại rằng Lieserl đã được nhận làm con nuôi ở một gia đình khác. Lần cuối cùng tin tức về Lieserl được đề cập là năm 1903, khi thông tin trong một lá thư nói rằng cô bé đã mắc bệnh sốt ban đỏ.

Kết hôn

Einstein và Maric đoàn tụ năm 1903. Họ kết hôn tại thành phố Bern, Thụy Sĩ. Một năm sau, họ chào đón cậu con trai Hans Albert. Người con thứ ba của họ chào đời năm 1910, được đặt tên là Eduard.
Einstein trở thành giáo sư tại ETH vào năm 1912. Trong khoảng thời gian này, Einstein bắt đầu mối quan hệ với em họ là Elsa Lowenthal. Năm 1914, Einstein đến Berlin. Maric và hai con theo chồng đến đây, nhưng rồi sớm quay lại Thụy Sĩ. Einstein yêu cầu ly hôn năm 1916, quyết định ly dị chính thức có hiệu lực ba năm sau đó. Theo thỏa thuận, Maric được nhận số tiền thưởng của giải Nobel khi Einstein nhận giải thưởng cao quý này vào năm 1921.
Cuộc sống của Maric sau khi ly hôn với Einstein gặp khá nhiều khó khăn. Bà trông nom một nhà trọ và dạy học để kiếm sống. Mọi thứ dường như đổ sụp trước mắt khi con trai Eduard bị suy nhược thần kinh vào năm 1930. Sau khi được chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt, Eduard phải sống trong các cơ sở từ thiện, còn anh trai Hans Albert chuyển đến Mỹ cùng gia đình vào năm 1938. Mileva Einstein-Maric qua đời 10 năm sau đó.

Cô em họ - người vợ thứ hai

Elsa Lowenthal là em họ xa của Einstein, sinh ngày 18/1/1876 tại thành phố Ulm, Đức. Tình cảm giữa hai người trở nên thất thiết và gần gũi hơn từ khoảng năm 1912, mặc dù lúc này Einstein đã kết hôn với Maric. Trước đó, Elsa từng kết hôn và ly dị. Bà có hai con gái là Ilse và Margo.
Hai người phụ nữ trong cuộc đời Albert Einstein
Elsa Lowenthal cùng Albert Einstein. (Ảnh: Wikipedia)

Elsa được coi là người trợ lý, người đồng hành đáng tin cậy bên cạnh Einstein. Năm 1917, bệnh tình của nhà vật lý nổi tiếng có dấu hiệu nặng hơn, Elsa là người bên cạnh và chăm sóc giúp ông khỏe mạnh trở lại. Hai người kết hôn ngày 2/6/1919.
Khi tên tuổi của Einstein ngày càng được biết đến nhiều hơn trong giới khoa học, Elsa là người bên cạnh ông trong nhiều chuyến đi đến khắp nơi trên thế giới. Họ từng đến Mỹ năm 1921, cùng năm ông nhận giải Nobel Vật lý. Elsa đóng vai trò hỗ trợ cho sự nghiệp nghiên cứu của Einstein, giúp quản lý công việc hàng ngày cho đến năm 1928. Thậm chí sau khi ông có thư ký mới, Elsa vẫn tiếp tục là người đồng hành không mệt mỏi của chồng.
Sau khi đảng Quốc xã lên nắm quyền, mọi thứ bắt đầu trở nên khó khăn với Einstein. Ông từng lên tiếng phản đối đảng Quốc xã vì chính sách chống người Do Thái. Năm 1933, khi cùng Elsa đến các nước khác, Einstein phát hiện nhà của họ bị lục soát, tài sản sau đó bị chiếm giữ. Nhận thấy không thể quay trở lại Đức, Einstein quyết định ở lại Mỹ. Tại đây, Einstein trở thành giáo sư về vật lý lý thuyết tại Viện Nghiên cứu Princeton, bang New Jersey.
Elsa biết tin cô con gái Ilse bị ung thư một năm sau đó và đến Paris để ở bên cạnh con trong những ngày tháng cuối cùng. Không lâu sau cái chết của Ilse, Elsa gặp các vấn đề về tim và phổi. Ngày 20/12/1936, bà qua đời trong ngôi nhà tại Princeton.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEge4qQVFf4oNp7ErnHJC_I-VSv266fcECubqGpfxAhc2BfaeHTum76qCz7e_SImGFlih4a-ou_NF36FtDrC0dtdYhxZWpuUNSjjC3V20M-9CRHae5UqOF0LfQRAhdSHaVvxzsoReSEZnXRg/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgbCDd7U-GCiX_0O3yCFYGVY4bIKuAKlZLN9kMj6Q4Y0O62x4VTr3XlVcZ71jzWx3eh-JafzPbYImNChbZZAMcjO6-zGaD0RKnZcSGhj9vKFTusFh9Xjey9S9B9RVRdyU6hA0N0TZmYGnVx/
Quanh ta
1:16 PM|

Từ những người bạn thân thiết và có chung niềm đam mê, Mileva Maric kết hôn và trở thành vợ đầu tiên của nhà vật lý nổi tiếng Albert Einstein. Cô em họ Elsa Lowenthal trở thành người bạn đời thứ hai của ông, đóng vai trò cộng sự và đồng hành đáng tin cậy.
Mileva Einstein-Maric sinh năm 1875 tại thị trấn Titel, Serbia, xuất thân trong một gia đình giàu có. Thời niên thiếu, vì có thành tích học tập tốt nên bà được phép theo học tại một ngôi trường chỉ có nam sinh ở Zagreb. Maric được mô tả là một học sinh xuất sắc ở các môn toán và vật lý. Năm 1896, Maric bắt đầu theo học tại Đại học Zurich, Thụy Sĩ trong một thời gian ngắn rồi chuyển sang Đại học Bách khoa Zurich (tiền thân của Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ hay ETH ngày nay). Trong số bạn bè ở trường đại học của Maric có Albert Einstein.
Trong thời gian học đại học, Maric từng có một kỳ học tập tại Heidelberg, Đức. Đây cũng là khoảng thời gian Maric bắt đầu trao đổi thư từ với Einstein, người từng đặt cho bà biệt danh "Dollie" và giục bà sớm quay trở về. Tình bạn đơn thuần bước sang một giai đoạn mới, sau khi Maric quay lại Thụy Sĩ.
Trong khi gia đình Maric ủng hộ mối quan hệ của hai người, thì cha mẹ của Einstein lại kiên quyết phản đối. Họ không ủng hộ việc Maric nhiều hơn Einstein 4 tuổi, đồng thời lại là người theo tôn giáo và đến từ một nền văn hóa khác.
Hai người phụ nữ trong cuộc đời Albert Einstein
Mileva Maric và Albert Einstein. (Ảnh: Wikipedia)

Tình yêu của Einstein và Maric tiếp tục nảy nở những ngày tháng sau đó. Tuy nhiên đây lại là thời điểm Maric gặp phải nhiều khó khăn trong học tập và nghiên cứu. Năm 1900, khi Einstein tốt nghiệp và bắt đầu tìm việc thì Maric thất bại trong kỳ thi cuối cùng, buộc phải làm việc cho một phòng thí nghiệm và chuẩn bị thi lại. Thế nhưng một lần nữa, những nỗ lực của bà lại không thành công. Trong khoảng thời gian này, bà phát hiện mình mang thai đứa con với Einstein.
Đầu năm 1902, Maric sinh con gái đầu lòng tại nhà bố mẹ đẻ ở Serbia. Tuy nhiên, cô con gái Lieserl không có thân phận rõ ràng. Về cơ bản, các hồ sơ liên quan đến Lieserl biến mất sau khi sinh. Nhiều câu chuyện kể lại rằng Lieserl đã được nhận làm con nuôi ở một gia đình khác. Lần cuối cùng tin tức về Lieserl được đề cập là năm 1903, khi thông tin trong một lá thư nói rằng cô bé đã mắc bệnh sốt ban đỏ.

Kết hôn

Einstein và Maric đoàn tụ năm 1903. Họ kết hôn tại thành phố Bern, Thụy Sĩ. Một năm sau, họ chào đón cậu con trai Hans Albert. Người con thứ ba của họ chào đời năm 1910, được đặt tên là Eduard.
Einstein trở thành giáo sư tại ETH vào năm 1912. Trong khoảng thời gian này, Einstein bắt đầu mối quan hệ với em họ là Elsa Lowenthal. Năm 1914, Einstein đến Berlin. Maric và hai con theo chồng đến đây, nhưng rồi sớm quay lại Thụy Sĩ. Einstein yêu cầu ly hôn năm 1916, quyết định ly dị chính thức có hiệu lực ba năm sau đó. Theo thỏa thuận, Maric được nhận số tiền thưởng của giải Nobel khi Einstein nhận giải thưởng cao quý này vào năm 1921.
Cuộc sống của Maric sau khi ly hôn với Einstein gặp khá nhiều khó khăn. Bà trông nom một nhà trọ và dạy học để kiếm sống. Mọi thứ dường như đổ sụp trước mắt khi con trai Eduard bị suy nhược thần kinh vào năm 1930. Sau khi được chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt, Eduard phải sống trong các cơ sở từ thiện, còn anh trai Hans Albert chuyển đến Mỹ cùng gia đình vào năm 1938. Mileva Einstein-Maric qua đời 10 năm sau đó.

Cô em họ - người vợ thứ hai

Elsa Lowenthal là em họ xa của Einstein, sinh ngày 18/1/1876 tại thành phố Ulm, Đức. Tình cảm giữa hai người trở nên thất thiết và gần gũi hơn từ khoảng năm 1912, mặc dù lúc này Einstein đã kết hôn với Maric. Trước đó, Elsa từng kết hôn và ly dị. Bà có hai con gái là Ilse và Margo.
Hai người phụ nữ trong cuộc đời Albert Einstein
Elsa Lowenthal cùng Albert Einstein. (Ảnh: Wikipedia)

Elsa được coi là người trợ lý, người đồng hành đáng tin cậy bên cạnh Einstein. Năm 1917, bệnh tình của nhà vật lý nổi tiếng có dấu hiệu nặng hơn, Elsa là người bên cạnh và chăm sóc giúp ông khỏe mạnh trở lại. Hai người kết hôn ngày 2/6/1919.
Khi tên tuổi của Einstein ngày càng được biết đến nhiều hơn trong giới khoa học, Elsa là người bên cạnh ông trong nhiều chuyến đi đến khắp nơi trên thế giới. Họ từng đến Mỹ năm 1921, cùng năm ông nhận giải Nobel Vật lý. Elsa đóng vai trò hỗ trợ cho sự nghiệp nghiên cứu của Einstein, giúp quản lý công việc hàng ngày cho đến năm 1928. Thậm chí sau khi ông có thư ký mới, Elsa vẫn tiếp tục là người đồng hành không mệt mỏi của chồng.
Sau khi đảng Quốc xã lên nắm quyền, mọi thứ bắt đầu trở nên khó khăn với Einstein. Ông từng lên tiếng phản đối đảng Quốc xã vì chính sách chống người Do Thái. Năm 1933, khi cùng Elsa đến các nước khác, Einstein phát hiện nhà của họ bị lục soát, tài sản sau đó bị chiếm giữ. Nhận thấy không thể quay trở lại Đức, Einstein quyết định ở lại Mỹ. Tại đây, Einstein trở thành giáo sư về vật lý lý thuyết tại Viện Nghiên cứu Princeton, bang New Jersey.
Elsa biết tin cô con gái Ilse bị ung thư một năm sau đó và đến Paris để ở bên cạnh con trong những ngày tháng cuối cùng. Không lâu sau cái chết của Ilse, Elsa gặp các vấn đề về tim và phổi. Ngày 20/12/1936, bà qua đời trong ngôi nhà tại Princeton.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEge4qQVFf4oNp7ErnHJC_I-VSv266fcECubqGpfxAhc2BfaeHTum76qCz7e_SImGFlih4a-ou_NF36FtDrC0dtdYhxZWpuUNSjjC3V20M-9CRHae5UqOF0LfQRAhdSHaVvxzsoReSEZnXRg/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgbCDd7U-GCiX_0O3yCFYGVY4bIKuAKlZLN9kMj6Q4Y0O62x4VTr3XlVcZ71jzWx3eh-JafzPbYImNChbZZAMcjO6-zGaD0RKnZcSGhj9vKFTusFh9Xjey9S9B9RVRdyU6hA0N0TZmYGnVx/

Khu vực bề ngang 4km trên “đầu” của sao chổi 67P/Churyumov-Gerasimenko sẽ là điểm đáp của tàu thăm dò Philae thuộc phi thuyền Rosetta.
Nếu thành công, sứ mệnh có độ nguy hiểm cao sẽ đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại rằng một cỗ máy của con người đã đáp lên một sao chổi.

Ảnh: theregister.co.uk

Theo Space.com, các nhà khoa học tại trung tâm điều khiển sứ mệnh Rosetta tại Đức hy vọng tàu thăm dò có bề ngoài giống con nhện sẽ gửi những thông tin quý báu giúp trả lời nhiều câu hỏi chưa được giải đáp về nguồn gốc của nước trên Trái đất, và thậm chí cả những câu hỏi về sự sống.
Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng việc đáp tàu thăm dò nặng 100kg chỉ là phần bổ sung của sứ mệnh vốn được đánh giá thành công của Rosetta.
Sao chổi 67P/Churyumov-Gerasimenko hiện cách Trái đất khoảng 440 triệu km, và dự kiến Philae sẽ được thả xuống điểm tập kết vào ngày 11/11, khi Rosetta cách sao chổi khoảng 10km.
Lý do chọn địa điểm trên “đầu” sao chổi để đáp là vì địa hình dốc ở nơi này nghiêng theo góc chưa đến 30 độ, giảm nguy cơ Philae bị lật trong quá trình tiếp đất.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhe7aP5EKH5Ab05N023-d9RGc0GNOfZ3abHjgRaddjHoWIz4I_FGbjd_yVkMCl3SuFtzPDhBCheVbD1Muw_E-QP6EAibRPumv8bjJK_4kzeV7WxFPkE1JxL0acLndZFHjBUwApKdk9yH8x8/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiD57H1ZwzFAacjvw6D1qL8BR6a0g4DrGrfHTiwnO3sOLYyW-wBlh2ft-aPuLkqEJo6UlbDy4HLhw7BgXpScIkk8dN8WqV3kTIl3RcXpzfhj1QoU0X9-eoLv5a7FagyvHXlScat1UtuMyLq/
Vũ trụ
1:17 PM|

Khu vực bề ngang 4km trên “đầu” của sao chổi 67P/Churyumov-Gerasimenko sẽ là điểm đáp của tàu thăm dò Philae thuộc phi thuyền Rosetta.
Nếu thành công, sứ mệnh có độ nguy hiểm cao sẽ đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại rằng một cỗ máy của con người đã đáp lên một sao chổi.

Ảnh: theregister.co.uk

Theo Space.com, các nhà khoa học tại trung tâm điều khiển sứ mệnh Rosetta tại Đức hy vọng tàu thăm dò có bề ngoài giống con nhện sẽ gửi những thông tin quý báu giúp trả lời nhiều câu hỏi chưa được giải đáp về nguồn gốc của nước trên Trái đất, và thậm chí cả những câu hỏi về sự sống.
Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng việc đáp tàu thăm dò nặng 100kg chỉ là phần bổ sung của sứ mệnh vốn được đánh giá thành công của Rosetta.
Sao chổi 67P/Churyumov-Gerasimenko hiện cách Trái đất khoảng 440 triệu km, và dự kiến Philae sẽ được thả xuống điểm tập kết vào ngày 11/11, khi Rosetta cách sao chổi khoảng 10km.
Lý do chọn địa điểm trên “đầu” sao chổi để đáp là vì địa hình dốc ở nơi này nghiêng theo góc chưa đến 30 độ, giảm nguy cơ Philae bị lật trong quá trình tiếp đất.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhe7aP5EKH5Ab05N023-d9RGc0GNOfZ3abHjgRaddjHoWIz4I_FGbjd_yVkMCl3SuFtzPDhBCheVbD1Muw_E-QP6EAibRPumv8bjJK_4kzeV7WxFPkE1JxL0acLndZFHjBUwApKdk9yH8x8/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiD57H1ZwzFAacjvw6D1qL8BR6a0g4DrGrfHTiwnO3sOLYyW-wBlh2ft-aPuLkqEJo6UlbDy4HLhw7BgXpScIkk8dN8WqV3kTIl3RcXpzfhj1QoU0X9-eoLv5a7FagyvHXlScat1UtuMyLq/

Điều tra nội bộ của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) cho thấy cơ quan này thất bại nghiêm trọng với chương trình săn lùng các thiên thạch có khả năng va vào Trái đất.
Theo Reuters, hôm qua Tổng thanh tra NASA Paul Martin công bố báo cáo khẳng định chương trình săn lùng thiên thạch của NASA “bị quản lý quá kém và thiếu nhân lực trầm trọng”.
Điều đáng nói là trước đó ngân sách săn lùng thiên thạch của NASA đã tăng 10 lần từ 4 triệu USD năm 2009 lên 40 triệu USD năm 2014.
Sứ mệnh săn lùng thiên thạch của NASA thất bại
Một chiếc hố đường kính 8m do mảnh vỡ thiên thạch rơi xuống Chelyabinsk tạo ra - (Ảnh: RT)

“NASA mới chỉ phát hiện 10% các thiên thạch nguy hiểm đường kính trên 140m. Với những yếu kém hiện tại, NASA sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ phát hiện 90% thiên thạch có đường kính trên 140m vào năm 2020 như quốc hội yêu cầu” - báo cáo viết.
Thành công lớn nhất của NASA là đã tìm ra 95% các thiên thạch có đường kính trên 1km, có khả năng tiêu diệt sự sống trên Trái đất. Tuy nhiên mối nguy cơ từ các thiên thạch cỡ nhỏ là rất lớn.
Tháng 2/2013, mảnh vỡ một thiên thạch có đường kính 18m nổ trên
bầu trời Chelyabinsk (Nga) khiến 1.000 người bị thương.
Các nhà khoa học ước tính sức công phá của vụ nổ này tương đương 30 quả bom nguyên tử. Nghiên cứu cho thấy cứ 30 năm có thể xảy ra một vụ thiên thạch tấn công tương tự vụ Chelyabinsk.
Từ năm 1998 đến nay, NASA đã chi 100 triệu USD để phát hiện các thiên thạch nguy hiểm, di chuyển ở độ cao 45km tính từ mặt đất. Tính đến tháng 7/2014, NASA tìm thấy 11.230 thiên thạch, bao gồm 862 thiên thạch lớn, đường kính trên 1km.
Các quan chức NASA thừa nhận sẽ phải tổ chức một chương trình tìm kiếm thiên thạch nguy hiểm mới từ tháng 9/2015.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhAHoxCEnNgJjjxD9qol4nm6XSU5czgNhmECIjzyg00-VZ9E4l-OLa1-AtVCSUQ-Vfr1nN2dZgAsQZFV2va8prhSnPvF3Qo6REPYv4AxR_y49iw4b8XU7MO1QVqMXpt47jEkoAwa_Lx4C4E/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiC3Hetf2LmGhGD5fYvosAhyu67QtNUupjRMA_pVwPhGIssoRybuI5C3vUG09IgZTzrI_ahToiK9lQlhRczSvbOMkZhudNspZM7Ma_m2QcDZibhRx3IrFhu7Rmg5Tsuh7Evn2hWU8juY22l/
Vũ trụ
1:16 PM|

Điều tra nội bộ của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) cho thấy cơ quan này thất bại nghiêm trọng với chương trình săn lùng các thiên thạch có khả năng va vào Trái đất.
Theo Reuters, hôm qua Tổng thanh tra NASA Paul Martin công bố báo cáo khẳng định chương trình săn lùng thiên thạch của NASA “bị quản lý quá kém và thiếu nhân lực trầm trọng”.
Điều đáng nói là trước đó ngân sách săn lùng thiên thạch của NASA đã tăng 10 lần từ 4 triệu USD năm 2009 lên 40 triệu USD năm 2014.
Sứ mệnh săn lùng thiên thạch của NASA thất bại
Một chiếc hố đường kính 8m do mảnh vỡ thiên thạch rơi xuống Chelyabinsk tạo ra - (Ảnh: RT)

“NASA mới chỉ phát hiện 10% các thiên thạch nguy hiểm đường kính trên 140m. Với những yếu kém hiện tại, NASA sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ phát hiện 90% thiên thạch có đường kính trên 140m vào năm 2020 như quốc hội yêu cầu” - báo cáo viết.
Thành công lớn nhất của NASA là đã tìm ra 95% các thiên thạch có đường kính trên 1km, có khả năng tiêu diệt sự sống trên Trái đất. Tuy nhiên mối nguy cơ từ các thiên thạch cỡ nhỏ là rất lớn.
Tháng 2/2013, mảnh vỡ một thiên thạch có đường kính 18m nổ trên bầu trời Chelyabinsk (Nga) khiến 1.000 người bị thương.
Các nhà khoa học ước tính sức công phá của vụ nổ này tương đương 30 quả bom nguyên tử. Nghiên cứu cho thấy cứ 30 năm có thể xảy ra một vụ thiên thạch tấn công tương tự vụ Chelyabinsk.
Từ năm 1998 đến nay, NASA đã chi 100 triệu USD để phát hiện các thiên thạch nguy hiểm, di chuyển ở độ cao 45km tính từ mặt đất. Tính đến tháng 7/2014, NASA tìm thấy 11.230 thiên thạch, bao gồm 862 thiên thạch lớn, đường kính trên 1km.
Các quan chức NASA thừa nhận sẽ phải tổ chức một chương trình tìm kiếm thiên thạch nguy hiểm mới từ tháng 9/2015.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhAHoxCEnNgJjjxD9qol4nm6XSU5czgNhmECIjzyg00-VZ9E4l-OLa1-AtVCSUQ-Vfr1nN2dZgAsQZFV2va8prhSnPvF3Qo6REPYv4AxR_y49iw4b8XU7MO1QVqMXpt47jEkoAwa_Lx4C4E/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiC3Hetf2LmGhGD5fYvosAhyu67QtNUupjRMA_pVwPhGIssoRybuI5C3vUG09IgZTzrI_ahToiK9lQlhRczSvbOMkZhudNspZM7Ma_m2QcDZibhRx3IrFhu7Rmg5Tsuh7Evn2hWU8juY22l/